Trang này tất cả
search  
8/1/2008 9: 21: 15 AM
  Trang chủ | Site map | Liên hệ
Thông tin thời tiết
Tỷ giá
Thị trường chứng khoán
Mã CK TC Khớp lệnh +/-
Giá KL
 
 
:: Chính sách - Pháp luật » Chính sách về đầu tư » Chi tiết
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020

TẦM NHÌN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020: TỔNG QUAN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THỜI KỲ 2011-2020

(Trích báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Hội nghị CG giữa kỳ 2010 ngày 09-10/6/2010 tại Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang)

Việt Nam đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; tiềm lực kinh tế được tăng cường; nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành và phát triển. 

Quan điểm và mục tiêu đầu tư phát triển

Các quan điểm phát triển trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 2011-2020 là:

1/. Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược. Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh; phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững. 

2/. Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới. Đổi mới trong lĩnh vực chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế. Coi việc thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả của quá trình đổi mới và phát triển.

3/. Thực hành dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và các điều kiện để mọi người được phát triển toàn diện. Phát huy lợi thế dân số và con người Việt Nam, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chăm lo lợi ích chính đáng và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi người dân, thực hiện công bằng xã hội. 

4/. Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực. 

5/. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Phát triển lực lượng doanh nghiệp trong nước với nhiều thương hiệu mạnh, có sức cạnh tranh cao để làm chủ thị trường trong nước, mở rộng thị trường ngoài nước, góp phần bảo đảm độc lập tự chủ của nền kinh tế. Trong hội nhập quốc tế, phải luôn chủ động thích ứng với những thay đổi của tình hình, bảo đảm hiệu quả và lợi ích quốc gia.

Mục tiêu phát triển tổng quát của Việt Nam là: Phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, đồng thuận, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau. Mục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7-8%/năm. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 3.000-3.200 USD. Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, hiệu quả. Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP. Giá trị sản phẩm công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP. Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Nông nghiệp có bước phát triển toàn diện, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Tỷ lệ lao động nông nghiệp khoảng 30% lao động xã hội. Kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ. Tỷ lệ đô thị hoá đạt trên 45%. Số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%.

Xây dựng xã hội đồng thuận, dân chủ, kỷ cương, công bằng, văn minh. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; tốc độ tăng dân số ổn định ở mức 1,1%; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; đạt 9 bác sỹ và 26 gường bệnh trên một vạn dân1[1], thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; lao động qua đào tạo chiếm trên 70%, lao động qua đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã hội; tỷ lệ hộ nghèo giảm 2-3%/năm; phúc lợi, an sinh xã hội được bảo đảm. Thu nhập thực tế của dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010; thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và nhóm dân cư. Xoá nhà ở đơn sơ, tỷ lệ nhà ở kiên cố đạt 70%, bình quân 25 m2 sàn xây dựng/người. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Có một số lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục, y tế đạt trình độ tiên tiến, hiện đại. Số sinh viên đạt 450 trên một vạn dân. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện. 

Cải thiện chất lượng môi trường. Đưa tỷ lệ che phủ rừng lên 45%. Hầu hết dân cư thành thị và nông thôn được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh. 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh mới áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị xử lý chất thải; trên 80% cơ sở sản xuất, kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn môi trường. Các đô thị loại IV trở lên và tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn. Cải thiện và phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm nặng. Chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng.  

Định hướng đầu tư phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hài hoà giữa chiều rộng và chiều sâu theo hướng chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ; thúc đẩy cơ cấu lại doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh hàm lượng nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. Tạo chuyển biến tiến bộ về phân công lao động xã hội, trong đó tăng tỷ lệ lao động làm việc trong các lĩnh vực công nghệ cao, những lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam để tham gia phân công lao động quốc tế; tăng tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành và lĩnh vực tạo ra sản phẩm xuất khẩu, đặc biệt là sản phẩm dịch vụ xuất khẩu. Cơ cấu kinh tế phải tạo ra tăng trưởng nhanh và bền vững, toàn dụng lao động, đem lại công bằng, tiến bộ rõ rệt cho xã hội, nâng cao mức sống của các tầng lớp dân cư.

Tăng khả năng và tiềm năng của nền kinh tế để chủ động trong lộ trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới; bảo đảm tự chủ trong kinh tế. Xây dựng cơ cấu kinh tế năng động với các loại hình sản xuất kinh doanh có các quy mô khác nhau (lớn, vừa và nhỏ), có khả năng thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình phát triển kinh tế và thương mại quốc tế.  

Những định hướng phát triển chủ yếu đến năm 2020:

1- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại là tiền đề quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế.

2- Phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh, tạo nền tảng cho một nước công nghiệp. Cơ cấu lại sản xuất công nghiệp, tăng hàm lượng khoa học công nghệ và giá trị nội địa trong sản phẩm. Phát triển có chọn lọc công nghiệp chế biến, chế tác, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp năng lượng, khai khoáng, luyện kim, hoá chất, công nghiệp quốc phòng. Ưu tiên phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, thuộc các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp cơ khí, công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông, công nghiệp dược... Phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ. Chú trọng phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, năng lượng sạch và vật liệu mới đi đôi với áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu. Từng bước phát triển công nghiệp sinh học và công nghiệp môi trường. Tiếp tục phát triển phù hợp các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động. 

3- Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững. Khai thác lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới để phát triển sản xuất hàng hóa lớn. Xây dựng mô hình sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện từng vùng và từng loại cây, con. Khuyến khích tập trung ruộng đất, phát triển gia trại, trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp phù hợp về quy mô và điều kiện của từng vùng. Tiếp tục đổi mới, xây dựng mô hình phát triển kinh tế hợp tác phù hợp với cơ chế thị trường. Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa sang sử dụng vào mục đích khác đi đôi với việc bảo đảm lợi ích của người trồng lúa và địa phương trồng lúa. Đẩy nhanh áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến, bảo quản; ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học, tăng nhanh giá trị gia tăng trên một đơn vị đất canh tác. Hỗ trợ phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao. Phát triển mạnh chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp, an toàn dịch bệnh. Phát triển lâm nghiệp bền vững cả rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Khai thác bền vững, có hiệu quả nguồn lợi hải sản, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, với bảo vệ môi trường. 

4- Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có giá trị cao, tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh. Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có giá trị cao, tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh, để thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế và hội nhập quốc tế. Tập trung sức phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế như: hàng hải, hàng không, viễn thông, du lịch, y tế. Hình thành một số trung tâm dịch vụ có tầm khu vực. Mở rộng thị đường nội địa, phát triển mạnh thương mại trong nước; đa dạng hoá thị trường ngoài nước, khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định mậu dịch tự do, tăng nhanh xuất khẩu, giảm nhập siêu, phấn đấu cân bằng xuất-nhập. Chủ động tham gia vào mạng phân phối toàn cầu; phát triển hệ thống phân phối các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước, xây dựng thương hiệu cho hàng hoá Việt Nam. Đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch, nâng cao chất lượng để đạt đẳng cấp quốc tế. 

5- Phát triển hài hòa, bền vững các vùng, xây dựng đô thị và nông thôn mới. Có cơ chế, chính sách phù hợp để các vùng trong cả nước cùng phát triển, đồng thời tạo sự liên kết giữa các vùng và trong nội vùng, giữa các vùng trong nước với các nước trong khu vực. Thúc đẩy phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực, tác động lan toả đến các vùng khác; đồng thời tạo điều kiện phát triển nhanh hơn cho các khu vực đang còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các vùng biên giới, hải đảo, Tây Nguyên, Tây Nam và Tây Bắc.   

6- Phát triển đô thị, nâng cao chất lượng và quản lý chặt chẽ quy hoạch đô thị. Từng bước hình thành hệ thống đô thị có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thân thiện với môi trường gồm một số thành phố lớn, nhiều thành phố vừa và nhỏ phân bố hợp lý trên các vùng; chú trọng phát triển đô thị miền núi, phát triển mạnh các đô thị ven biển.

7- Hình thành và phát triển các hành lang, vành đai kinh tế: Tạo sự kết nối đồng bộ về hệ thống kết cấu hạ tầng để hình thành trục kinh tế Bắc-Nam, các hành lang kinh tế Đông-Tây, các hành lang kinh tế xuyên Á. Xây dựng trung tâm hợp tác phát triển kinh tế lớn tại các cửa khẩu trên các hành lang kinh tế.

8- Đẩy mạnh phát triển văn hóa; nâng cao chất lượng cuộc sống, thực hiện tốt hơn tiến bộ và công bằng xã hội. Kết hợp chặt chẽ các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội, các chính sách kinh tế với các chính sách xã hội; thực hiện tốt hơn tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển, phù hợp với trình độ và điều kiện cụ thể. 

9- Tập trung đổi mới căn bản, toàn diện, mạnh mẽ giáo dục-đào tạo theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”, ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo toàn diện “dạy chữ, dạy nghề, dạy người”, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng thực hành, năng lực sáng tạo, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ngoại ngữ...

10- Để khoa học và công nghệ trở thành động lực then chốt của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức phải thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ: nâng cao năng lực, đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ.

11- Bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu. Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong toàn xã hội; hoàn thiện hệ thống luật pháp về bảo vệ môi trường. Đưa vấn đề bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng, vào các chương trình, dự án đầu tư. Đẩy mạnh sản xuất và tiêu dùng bền vững, phát triển “năng lượng sạch”, “sản xuất sạch”, “tiêu dùng sạch”, bảo đảm cho người dân được sống trong môi trường có chất lượng ngày càng tốt hơn.

12- Mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Mục tiêu đối ngoại của Việt Nam là tranh thủ tối đa môi trường quốc tế thuận lợi để xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới. Việt Nam sẽ tăng cường hợp tác quốc tế, tạo môi trường hoà bình, ổn định và tranh thủ mọi nguồn lực từ bên ngoài để phát triển đất nước. Tham gia tích cực, chủ động và có trách nhiệm tại các diễn đàn và tổ chức quốc tế, phát huy vị thế của Việt Nam trong việc tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả, góp phần phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo lập những điều kiện thuận lợi để thu hút mạnh các nguồn vốn quốc tế; thu hút các nhà đầu tư lớn, có công nghệ cao, công nghệ nguồn; mở rộng và đa dạng thị trường xuất, nhập khẩu nhất là với các đối tác truyền thống .

Tập trung sức đột phá những lĩnh vực then chốt để làm chuyển động toàn bộ tình hình kinh tế - xã hội:

i- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính nhằm giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng tốt nhất mọi nguồn lực. Tiếp tục đổi mới việc xây dựng và thực thi luật pháp; tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Đổi mới công tác kế hoạch và điều hành phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, đồng thời thực hiện tốt chính sách xã hội. Thực hiện hệ thống cơ chế và chính sách phù hợp nhằm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của nền kinh tế, đặc biệt là cơ chế, chính sách tài chính, tiền tệ. Tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường. 

ii- Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu phát triển. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định đảm bảo kinh tế - xã hội phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo - quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, đội ngũ quản trị doanh nghiệp giỏi và đội ngũ lao động lành nghề. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng với đòi hỏi đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các vùng, miền, lĩnh vực, ngành nghề; xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn, đáp ứng trực tiếp cho nhu cầu của các doanh nghiệp và các nhu cầu thiết yếu khác.

iii- Tập trung cao các nguồn lực để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn. Hình thành cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh và chất lượng ngày càng cao của đất nước. Bằng các hình thức  đầu tư  đa dạng (BOT, PPP…) khuyến khích, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia phát triển kết cấu hạ tầng. Trước hết tập trung hình thành đồng bộ, hiện đại khung kết cấu hạ tầng theo trục giao thông Bắc-Nam, các trục hành lang Đông-Tây, hai hành lang và một vành đai kinh tế; Xây dựng hệ thống đường bộ cao tốc, các tuyến đường bộ đối ngoại đạt tiêu chuẩn kỹ thuật của đường bộ khu vực; xây dựng các tuyến đường sắt cao tốc và đường sắt tốc độ cao; ưu tiên xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam. Phát triển hệ thống cảng biển quốc gia, các cảng cửa ngõ quốc tế. Tập trung đầu tư các cảng hàng không quốc tế trong khu vực Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với quy mô và chất lượng phục vụ ngang tầm với các cảng hàng không quốc tế lớn trong khu vực. Nhanh chóng phát triển giao thông vận tải bánh sắt tại các đô thị, đường sắt nội-ngoại ô, trước mắt ưu tiên triển khai tại Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Phát triển đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống thuỷ lợi đáp ứng yêu cầu của nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn. Phát triển nhanh nguồn điện và hoàn chỉnh hệ thống truyền tải, đi đôi với sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, bảo đảm sự vận hành an toàn, hiệu quả, cung cấp đủ điện cho nhu cầu xã hội. Hiện đại hoá bưu chính - viễn thông đáp ứng yêu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập quốc tế. 

---------------------  ****** --------------------



[1] Không kể số giường bệnh của các trạm xá cấp xã.

  Các bài viết mới
▪  Phân cấp quản lý và đơn giản hóa các quy trình thủ tục về đầu tư  (14/12/2011)
▪  Đảm bảo và ưu tiên thu hút FDI phục vụ chiến lược phát triển đất nước  (14/12/2011)
 
 
Mạng lưới Xúc tiến đầu tư