Trang này tất cả
search  
8/1/2008 9: 21: 15 AM
  Trang chủ | Site map | Liên hệ
Thông tin thời tiết
Tỷ giá
Thị trường chứng khoán
Mã CK TC Khớp lệnh +/-
Giá KL
 
 
:: Đồng hành cùng Nhà đầu tư » Chi tiết
Dịch vụ logistic Việt Nam những nốt thắt cần phải đột phá

Vị thế và những nút thắt hạn chế

Theo Luật Thươngmại, dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chứcthực hiện một hoặc nhiều công việc, bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưubãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đónggói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng, xử lý hàng hư hỏng hoặc các dịch vụ kháccó liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.

Logistics đónggóp quan trọng vào quá trình phân phối hàng hoá từ nơi sản xuất đến người tiêudùng và là cầu nối thương mại toàn cầu. Hoạt động logistics ngày nay không chỉgắn liền với hoạt động kho vận, giao nhận vận tải, mà còn lên kế hoạch, sắp xếpdòng chảy nguyên, vật liệu từ nhà cung ứng đến nhà sản xuất, sau đó luân chuyểnhàng hóa từ khâu sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, tạo nên sự liên thôngtrong toàn xã hội theo những phương án tối ưu hóa, giảm chi phí luân chuyển vàlưu kho. Nếu logistics làm tốt sẽ đảm bảo dịch vụ tốt hơn, chi phí thấp hơnnhưng lại hiệu quả hơn cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế.

Nói cách khác, Logisticslà một ngành dịch vụ quan trọng, đem lại giá trị giá tăng cao trong cơ cấu tổng thểnền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinhtế - xã hội của cả nước, cũng như từng địa phương, gópphần nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện cáncân thương mại của nền kinh tếthúc đẩy thuận lợi hóa thươngmại, tái cấu trúc hoạt động sản xuất, thương mại của doanh nghiệp.

Dịch vụ logistics không có têntrong phân loại các ngành/phân ngành dịch vụ của WTO. Các hoạt động của dịch vụlogistics được xếp nằm trong “Dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải” thuộcngành dịch vụ vận tải được phân loại thành các nhóm sau:

- Dịch vụ logistics chủ yếu (corelogistics services): Dịch vụ thiết yếu trong hoạt động logistics và cần phảitiến hành tự do hóa để thúc đẩy sự lưu chuyển dịch vụ, bao gồm: dịch vụ làmhàng, dịch vụ lưu kho, dịch vụ đại lý vận tải và các dịch vụ hỗ trợ khác.

- Dịch vụ có liên quan tới vậntải: các dịch vụ có liên quan tới cung cấp có hiệu quả dịch vụ logistics tíchhợp ,cũng như cung cấp môi trường thuận lợi cho hoạt động của logistics bên thứ3 phát triển, gồm vận tải hàng hóa (đường biển, đường thủy nội địa, hàng không, đườngsắt, đường bộ và cho thuê phương tiện không có người vận hành) và các dịch vụkhác có liên quan tới dịch vụ logistics, gồm dịch vụ phân tích và thử nghiệm kỹthuật, dịch vụ chuyển phát, dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn bán lẻ.

- Dịch vụ thứ yếu hoặc mang tínhbổ trợ (non core logistics services): gồm dịch vụ máy tính và liên quan tới máytính, dịch vụ đóng gói và tư vấn quản lý.

Trong ASEAN, dịch vụ logistics gồm11 phân ngành sau: Dịch vụ xếp dỡ hàng hóa trong vận tải biển (có mã phân loạitrong Bảng phân loại các hàng hóa và dịch vụ chủ yếu của Liên hợp quốc là741-CPC 741), Dịch vụ kho bãi (CPC 742), Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa (CPC748), các dịch vụ hỗ trợ khác (CPC 749), Dịch vụ chuyển phát (CPC 7512**), Dịchvụ đóng gói (CPC 876), Dịch vụ thông quan (không có trong phân loại của CPC),Dịch vụ vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển, loại trừ vận tải ven bờ, Dịchvụ vận tải hàng không (được đàm phán trong khuôn khổ Hội nghị các quan chức cấpcao về vận tải trong ASEAN), Dịch vụ vận tải đường sắt quốc tế (CPC 7112), Dịchvụ vận tải đường bộ quốc tế (CPC 7213).

Theo đúng lộtrình cam kết WTO, Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn cho ngành dịch vụ logistics từngày 11/1/2014, các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài đã được phép thành lậpdoanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài để cung ứng các dịch vụ kho bãi và dịchvụ đại lý vận tải hàng hóa.

Trên thế giới,chi phí logistics tương đương khoảng 10-13% GDP ở các nước phát triển, khoảng15-20% GDP ở các nước đang phát triển. Theo số liệu từ công ty kiểm toán đa quốc gia Dezan Shira & Associates,năm 2017, các nhà bán lẻ thương mại điện tử của Ấn Độ chi 5-15% doanh thu cho logistics. Con số tương ứng tại Mỹ là 11,7% (2015).

Ngành dịch vụ logistics của nướcta vàonhững năm 1960 - 1970 đã hình thành sơkhai với tên gọi giao nhận, kho vận nhưng chỉ chủ yếu là vận tải biển. Là một trong những ngành dịch vụ tăng trưởng đều và cao (tốc độ phát triển hàng năm đạt 16- 20%) nhất của Việt Nam trong thời gian qua, khu vực các dịch vụ logistics ở Việt Nam hiệncó quy mô 20-22 tỷ USD/năm, chiếm 20,9% GDP của cả nước. Nếu chỉ tính riêngkhâu quan trọng nhất trong logistics là vận tải, chiếm từ 40-60% chi phí thìcũng đã là một thị trường dịch vụ khổng lồ. Theo xếp hạng theo chỉ số năng lựcquốc gia về logistic (LPI) của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang đứng thứ 64/160 vàđứng thứ 4 trong ASEAN (sau Singapore, Malaysia, Thái Lan), với chi phí logistics tại Việt Namước tính khoảng 25% GDP hàng năm, cao hơn đáng kể so với Thái Lan (19%) vàSingapore (8%).

 

Trên con đườngthực hiện mục tiêu hội nhập ngành logistics, Việt Nam có lợi thế là sở hữu phầnlớn kho bãi phục vụ dịch vụ logistics và nắm bắt được thị trường, tâm lý kháchhàng, địa lý, thời tiết, văn hóa của người bản địa hơn doanh nghiệp nước ngoài;lao động Việt Nam thông minh, nhanh nhạy nên dễ dàng nắm bắt các quy trình,công nghệ tiên tiến của nước ngoài. Các cảng biển Việt Nam đã đầu tư, xây dựngquy mô lớn, có khả năng tiếp nhận tàu có tải trọng trên 100.000 tấn; có 70 đườngbay quốc tế... rất có lợi thế để phát triển dịch vụ logistics. Việt Nam luôn nhập siêu nguyênvật liệu và máy móc thiết bị. Đây chính là thị trường khá tốt cho các công tylogistics của Việt Nam. Nếu như trước đây các nhà nhập khẩu của Việt Nam chủyếu mua hàng theo điều kiện CIF, CIP (nghĩa là người bán quyết định ngườichuyên chở), thì nay các doanh nghiệp nhập khẩu của Việt Nam đang chuyển dần sang hìnhthức FOB. Điều này tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam khaithác. Tuy nhiên, một phần khá lớn thị phần ngành dịch vụ này vẫn nằm trong taycác hãng logistics nước ngoài, do có nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trựctiếp tại Việt Nam mà họ cũng chính là người nhập khẩu hàng nhiều nhất.

 Tuy nhiên, trên thực tế Việt Nam cũng đối mặtvới nhiều thách thức như: Cơ sở hạ tầng cho hoạt động logistics nghèo nàn vàthiếu đồng bộ, hạn chế, doanh nghiệp logistics quy mô nhỏ, hoạt động manh múnvà thiếu tính chuyên nghiệp, tính hợp tác và liên kết để tạo ra sức cạnh tranhthấp; chi phí logistics cao hơn nhiều so với các nước. Việt Nam đang bị hạn chế về vận tải biển quốc tế, vận tảihàng không quốc tế và các dịch vụ bên ngoài, vì thiếu hệ thống chung trên toànthế giới. Cộng đồng khoảng 1.300 doanh nghiệp Việt Nam làmdịch vụ logistics chủ yếu là vừa và nhỏ, chỉ chiếm 25% thị phần và khoảng 72%lao động (lao động được đào tạo bài bản chỉ chiếm 5-7%), hầu hết chỉ làm dịch vụ các chuỗi cung ứng nhỏtrong lãnh thổ Việt Nam với một số phân khúc như: Dịch vụ giao nhận, cho thuêkho bãi, làm thủ tục hải quan, gom hàng lẻ và thị phần tại các cảng...Trong khi, cả nước có 25/30 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới tham gia đầu tư và kinh doanh logistics dưới nhiều hình thức và chiếm 75% thị phần, chủ yếu làcác dịch vụ quốc tế.

Nhìn chung, ngành dịch vụlogistics ở Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ, các công ty giao nhận Việt Nam có thể chia thành 4 cấp độ:

Cấp độ 1: các đại lý giao nhậntruyền thống chỉ thuần túy cung cấp các dịch vụ cho khách hàng yêu cầu. Hiện gần 80% các công ty giao nhậnViệt Nam phải thuê lại kho và dịch vụ vận tải.

Cấp độ 2: Các đại lý giao nhậnđóng vai trò người gom hàng và cấp vận đơn nhà (House bill of lading). Hiệnkhoảng 10% các tổ chức giao nhận Việt Nam có khả năng cung cấp dịch vụ gom hàngtại CFS (container freight station fee) của chính họ hoặc do họ thuê của nhàthầu. một số mua bảo hiểm trách nhiệm giao nhận vận tải.

Cấp độ 3: Đại lý giao nhận đóng vai trò là nhà vận tải đa phương thức(Multimodal Transport Organizations-MTO). Hiện có hơn 50% các đại lý giao

nhận ở Việt Nam hoạt động như đạilý MTO nối mạng lưới đại lý ở khắp các nước trên thế giới.

Cấp độ 4: Đại lý giao nhận trởthành nhà cung cấp dịch vụ logistics.

Hầu hết các doanh nghiệp trongnước mới chỉ ở cấp độ 1 và cấp độ 2vẫn còn chưa có ý thức trong việcđầu tư vào quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng; hầu hết không có phòng quản lýlogistics hoặc chuỗi cung ứng các dịch vụ logistics giá trị giatăng nhiều dịch vụ đa dạng như: giao tận nhà, kiểm soát chất lượng hàng hóa,container treo dành cho hàng may mặc, quản lý dữ liệu và cung cấp dữ liệu đầucuối cho khách hàng, quét và in mã vạch, theo dõi kiểm tra hàng thông qua mạng.

Theo Viện Momura (Nhật Bản), cácdoanh nghiệp logistics Việt Nam chỉ đáp ứng khoảng ¼ nhu cầu thị trườnglogistics trong nước. Còn theo tính toán của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vựcquan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì doanh nghiệp Việt Nam mớichỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần cònlại đang bị chi phối bởi các doanh nghiệp nước ngoài.

Đặc biệt, cácdoanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt cũng đang phải chịu chi phí logistics cao (chi phí cho dịch vụ logistics ởViệt Nam chiếm gần 25% GDP, trong khi chi phí này ở Mỹ chiếm 9,5% GDP, NhậtBản là 11% GDP, Hàn Quốc 16%, Trung Quốc 21,6%; Theo VCCI, chi phí vận chuyển cho mộtcontainer hàng từ cảng Hải Phòng về Hà Nội hay ở chiều ngược lại (khoảng 100km), đắt gấp ba lần so với chi phí vận chuyển một container hàng từ Trung Quốcvà Hàn Quốc về Việt Nam), thời gian kéo dài, do doanh nghiệp logistics vàdoanh nghiệp XNK chưa có sự gắn bó đầy đủ; do khó khăn về thiếu hạ tầng kết nốicác khu vực cảng với khu vực tập trung hàng hóa; thiếu các trung tâm giao nhậnhàng hóa và dịch vụ chuyên dụng; cũng như do thói quen hoặc vị thê gia công củadoanh nghiệp xuất nhập khẩu (XNK) vẫn chủ yếu chuộngphương thức“mua CIF (giá tại cửa khẩu của bên nhập) bán FOB (giá tại cửa khẩu của bênxuất)”, chỉ khoảng 30% doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầuvà quen với dịch vụ logistics thuê ngoài, số còn lại vẫn tự làm… Việc thực hiện xuất khẩu hàng theođiều kiện FOB, FCA trong incoterms (nghĩa là người bán chỉ cần giao hàng qualan can tàu tại cảng bốc hàng theo quy định là hết trách nhiệm) khiến quyền quyết định về vận tải đềudo người mua chỉ định theo lợi ích và quan hệ riêng. Trên thực tế, các hợp đồng logistics thường về taycác công ty logistics toàn cầu, còn một phần vì các cuộc đấu thầu (tender)hàng năm của các tập đoàn lớn thường diễn ra ở nước ngoài.

Đáng quan ngại là, tuy quy mô nhỏ, manh mún, thiếu liên kết, nhưng một số doanh nghiệp còn cạnh tranh thiếu lành mạnh, hạgiá dịch vụ để giành được hợp đồng, chủ yếu là hạ giá thành thuê container,việc này khiến các doanh nghiệp trong nước bị thiệt, còn các doanh nghiệp nướcngoài là những người chủ tàu đóng vai trò chính sẽ là những người được hưởnglợi…

Định hướng và đột phá cần có

Trong thời gian qua, nhận thứcvà cơ sở pháp lý cho phát triển và quản lý các dịch vụ logistics không ngừngđược cải thiện: Chính phủ đã banhành các quy định, chính sách tạo điều kiện thuận lợi thương mại cho các doanhnghiệp logistics trong nước hoạt động và phát triển ngành nghề: Năm 1997, Việt Nam mới có văn bản pháp luật đầu tiênđịnh nghĩa về các hoạt động giao nhận kho vận tại Luật Thương mại. Đến năm2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics và các quy định khác đượcpháp điển hóa tại Mục 4 (Điều 233-240) Luật Thương mại (năm 2005). Tiếp đó, có Nghị định 140/2007/NĐ-CP chi tiết Luật Thươngmại 2005 về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics; Nghị định 115/2007/NĐ-CP vềđiều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải biển; Nghị định 87/2009/NĐ-CP về vận tảiđa phương thức… Kể từ năm 2009, hàng năm Chính phủ đều ban hành hàng loạt cácquyết định về quy hoạch giao thông vận tải, cảng biển, đường sắt, đường thuỷ vàhàng không… đến năm 2020 tầm nhìn 2030. Gần đây, Chính phủ liên tục đề cập việcđẩy nhanh xã hội hoá dịch vụ logistics, đầu tư kho hàng tại cảng biển lớn, cácđịa điểm thông quan, quy hoạch hệ thống logistics trên cả nước, nâng cao thịphần vận chuyển hàng hoá của các doanh nghiệp Việt Nam.  Năm 2011, Thủ tướng đã ký Quyếtđịnh 175/QĐ-TTg phê duyệt chiếnlược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020, theo đó lần đầu tiên Việt Nam có chiến lược dịch vụlogistics. Năm 2012, Thủ tướng có Quyết định số 950/QĐ/TTg về chương trình hành động thực hiệnchiến lược xuất nhập khẩu thời kỳ 2011-2020, định hướng đến 2030 trong đó đềcập đẩy nhanh xã hội hóa dịch vụ logistics, đầu tư kho bãi tại cảng biển lớn,các địạ điểm thông quan, quy hoạch hệ thống logistics trên cả nước, nâng caothị phần vận chuyển hàng hóa các doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nay, Luật Hải quancũng đang trong quá trình sửa đổi theo hướng tạo thuận lợi thương mại vàlogistics cũng như phù hợp thông lệ quốc tế và khu vực.

Hàng năm các bộ ngành ban hành nhiều văn bảnnhằm hướng dẫn, điều chỉnh, giảm bớt các thủ tục phiền hà, thúc đẩy các hoạtđộng ngành logistics và dịch vụ logistics. Chẳng hạn, Nghị định 87/2012/NĐ-CP về thủ tục hải quan điện tử vớinhiều cải cách trong thủ tục hải quan.

Đặc biệt, theo Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14 tháng 02năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ vềphê duyệt kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụlogistics, đến năm 2025 Việt Nam đặt quyết tâm trở thành một đầu mối logistics quan trọng trong khu vực, với mục tiêu cụ thể:Các ngành dịch vụ logistics tăngtrưởng dịch vụ đạt 15-20%/năm, chiếm tỷ trọng 8-10% GDP; Tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logisticsđạt 50-60%; Chi phí logistics giảm xuống tươngđương 16-20% GDP, xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI)trên thế giới đạt thứ 50 trở lên.

Để đạt mục tiêutrên, Việt Nam cần đột phá cơ chế quản lý Nhà nước, bao gồm cả chính sách hỗ trợ phát triểndịch vụ logistics, pháp luật điều chỉnh ngành, bộ máy quản lý để bảo đảm vai trò hỗ trợ, kiến tạo môi trường tự do kinh

doanh lành mạnh, bình đẳng, phù hợp cam kết hội nhập, phát triển hạ tầng logistics, xây dựng các trung tâm logistics các doanh nghiệp dịch vụlogistics đầu tàu, hiện đại, chuyên nghiệp, có đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước vàquốc tế cả về số lượng, quy mô, công nghệ, nhân lực và chấtlượng dịch vụ, gắn với pháttriển sản xuất hàng hóa, xuất nhập khẩu và thương mại trong nước, hạ tầng giaothông vận tải và công nghệ thông tin; quản lý tốt chuỗi cung ứng, tiết kiệm nguyên vật liệu và chi phí sản xuất,rút ngắn thời gian lưu chuyển hàng hóa và phát huy tối đa lợi thế vị trí địalý chiến lược

Điểm đột phá đáng ghi nhận trong chỉ đạo và quản lý nhà nước là đã có sựphân công 60 đầu nhiệm vụ liên quan đến hoàn thiện cơ sở luật pháp, thể chế, hạtầng, nâng cao năng lực doanh nghiệp, chất lượng dịch vụ và phát triển thịtrường logistics…cho các cấp và đơn vị liên quan để triển khai kế hoạch hànhđộng với tính quyết liệt, cụ thể, có đầu mồi và thời hạn rõ ràng, theo đó:

Chính phủ giao Bộ CôngThương, Bộ Tư pháp, vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm rà soát, bổ sung, sửa đổi nội dung các quy định pháp lý về dịch vụ logistics và các chính sách thuế, phí, giá dịch vụ liên quan đến logistics trong Luật Thươngmại và các Nghị định liên quan (trong đó có sửa đổi, bổ sung hoặc thay thếNghị định 140/2007/NĐ-CP), kiến nghị sửa đổi, ban hành mới các chính sách, pháp luật điều chỉnh dịch vụlogistics, vận tải đa phương thức, vận tải xuyên biên giới

Đồng thời, rà soát các camkết quốc tế về dịch vụ logistics tại WTO, ASEAN và các hiệp định thương mại tựdo (FTA), từ đó xây dựng phương án đàm phán cam kết về dịch vụ logistics tại các FTA trongtương lai và kiến nghị các biện pháp đảm bảo tránh xung đột trong cam kết về logisticstại các diễn đàn quốc tế, tránh xung đột giữa cam kết quốc tế về logistics vớipháp luật trong nước; đẩy mạnh các hoạt động thuận lợi hóa thương mại, đơn giản hóa thủ tục kiểm trachuyên ngành, chuẩn hóa hồ sơ, triển khai các cam kết tại Hiệp định về Thuậnlợi hóa thương mại của WTO; Đẩy mạnh áp dụng Cơ chế Một cửa Quốc gia, mở rộng áp dụng Cơ chế Một cửa Quốc giacho tất cả các thủ tục liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh, ngườivà phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh;

Các bộ, ngành và địa phương liên quan cần chủ động rà soát đảm bảo các quy hoạch, kế hoạch vềgiao thông, vận tải được phát triển đồng bộ, phù hợp với các chiến lược, quy hoạch về sản xuấtcông nghiệp, nông nghiệp, xuất nhập khẩu, chiến lược phát triển kinh tế - xãhội của các địa phương, gắn kết quy hoạch về trung tâm logistics, cảng cạn, khongoại quan trong một tổng thể thống nhất; Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, cơcấu sản xuất địa phương gắn với phát triển hạ tầng và dịch vụ logistics, đảm bảo các quy hoạch, kế hoạchphát triển hạ tầng và dịch vụ logistics phù hợp với kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội của địa phương; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tưvào lĩnh vực dịch vụ logistics, phát triển kết cấu hạ tầng logistics, sàn giao dịch logistics gắn với thương mại điện tử trên các địa bàn.

Tăng cường hợp tác với các đối tác nước ngoài để đầu tư, mở rộng kết nối hạ tầngcông trình giao thông, kho bãi, trung tâm logistics trong nước và ở nước ngoài với các nước trong khu vực ASEAN, Đông Bắc Á và các khu vực khác trênthế giới, nhằm phát huy tác dụng của vận tải đa phương thức, vận tải xuyên biên giớivà quá cảnh. Tăng cường năng lực và kết nối liên thông các loại hình vận chuyển và xử lý hàng hóa bằngđường hàng không, đường hàng hải, đường thủy nội địa, đường sắt, đườngbộ; Đẩy mạnh phát triển loạihình vận tải đa phương thức, vận tải xuyên biên giới, nhất là đối với hàng hóaquá cảnh, khắc phục tình trạng bất hợp lý về cơ cấu vận tải, tăng thị phần của cácphương thức vận tải khối lượng lớn, giảm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụvận tải; Điều chỉnh Quy hoạch và hiện đại hóa hệ thống cảng biển phát huy lợi thế kinh tế vùng. Nâng cao chất lượng dịch vụcủa đội tàu Việt Nam; Tăng lưu lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy nội địa.

Tạo thuận lợi và áp lực cho doanh nghiệp và một số khu công nghiệp, khu chế xuất áp dụng môhình quản trị chuỗi cung ứng tiên tiến trên nền tảng ứng dụng côngnghệ thông tin và các công nghệ mới trong logistics trong quá trìnhsản xuất, kinh doanh, trước hết trong những ngành xuất khẩu chủ lực; Tích hợp sâu dịch vụ logisticsvới các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, hoạt động xuất nhập khẩu, lưuthông hàng hóa trong nước và các ngành dịch vụ khác; Đẩy mạnh xây dựng dịch vụlogistics trọn gói 3PL, 4PL; Nâng cao số lượng doanh nghiệp cung cấp dịch vụlogistics trọn gói, ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm đạt chất lượng dịch vụ caohơn và nâng cao số lượng doanh nghiệp sản xuất, thương mại có sử dụng dịch vụlogistics để nâng cao hiệu quả hoạt động của mình; Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao nănglực đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng, xử lý tranh chấp liên quan đến hoạtđộng logistics, hình thành những tập đoàn mạnh về logistics, tiến tới đầu tư ra nước ngoài và xuấtkhẩu dịch vụ logistics.

Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, Phòng Thương mại và Côngnghiệp Việt Nam và các cơ quan truyền thông cần coi trọng khuyếnkhích tăng tính liên kết vì lợi cộng đồng trongh cac doanh nghiệp Việt; đẩymạnh hoạt động phổ biến, tuyên truyền về thị trường và các camkết quốc tế của Việt Nam liên quan đến dịch vụ logistics; Xây dựng Cổng thông tinthương mại nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tra cứu thuế suất và các thủ tục xuất nhập khẩu liênquan đến từng mặt hàng; Xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics tại địa phương hiệuquả, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương... Đẩy mạnh xúc tiến thương mại chodịch vụlogistics; định kỳ tổ chức và tham gia các hội thảo, hội chợ, triển lãm quốc tế, các đoàn nghiên cứu ra nước ngoàivà mời các đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam trao đổi cơ hội đầu tư, hợp tác về phát triển dịch vụ logistics. Đẩy mạnh tuyên truyền cho cácdoanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu và thương mại nội địa về việc sử dụngdịch vụ logistics thuê ngoài theo hướng chuyên môn hóa, phân công lao động hợplý trong chuỗi cung ứng. Nâng cao ý thức của doanh nghiệp chủ hàng, tạo cơ sở cho doanh nghiệp dịchvụ logistics Việt Nam tham gia vào nhiều công đoạn

trong chuỗi cung ứng với hàmlượng giá trị gia tăng ngày càng cao, Thay đổi điều kiện giao hàng"mua CIF, bán FOB"...

Các trường đại học thành lập khoalogistics, công nhận đào tạo logistics;  nghiên cứuxây dựng chuyên ngành, chương trình, giáo trình đào tạo về logistics; Xây dựng bộ tiêu chuẩn nghề vàkhung trình độ quốc gia đào tạo nghề về logistics tương thích với trình độchung của ASEAN và quốc tế.

Bên cạnh đó, các cơ quan hữu quan cần quan tâm kiện toàn, củng cố, nâng cao năng lực và bổ sung mã số đăng ký kinh doanhtheo nhóm ngành, các tiêu chuẩn, quy chuẩn, thống kê, kiểm định, đăngký và đánh giá, báo cáo trong quản lý nhà nước về hoạt động logistics; phát huy vai trò của các Hiệp hội, các hoạt động nghiên cứu,diễn đàn và đốithoại trong lĩnh vực logistics...

Với Kế hoạch hành động quốc gia về nâng cao năng lựccạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025, lần đầu tiênngành dịch vụ logistics có kế hoạch hành động quốc gia về dịch vụ logistics mộtcách toàn diện nhằm đưa ngành dịch vụ logistics - một ngành dịch vụ giá trị giatăng cao lên một bước mới hiện đại và mở rộng.

Cần nhấn mạnhrằng, để giảm được chi phí logistics, không chỉ phát triển kết cấu hạ tầng vàdịch vụ logistics trong nước, mà còn cần phải giảm được các chi phí liên quan đến cácthủ tục hải quan, chi phí vận tải trong nước và quốc tế; chi phí thuê khobãi... này, trong đó có thủ tục kiểm tra chuyên ngành và cả những chi phí khôngchính thức.

 Đồng thời, cùng với việc tăng cường ký kết hợp tác giữa Hiệp hội doanh nghiệpdịch vụ Logistics Việt Nam vớicác cơ quan hữu quan như hải quan, thuế..., cần khuyến khíchsự kết hợp trong nội bộ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics, sự liênkết giữa các nhà cung cấp dịch vụ và các nhà sử dụng dịch vụ logistics trongdây chuyền quản lý chuỗi cung ứng hàng hóa; gia tăng hợp tác và tăng tỷ lệ thuêngoài, cũng như đẩy mạnh hình thức cung cấp dịch vụ 3PL (Cung cấp dịch vụlogistics bên thứ ba hay logistics theo hợp đồng), với nền tảng là vận chuyểnđa phương phức và phối hợp tốt với dịch vụ 2PL (Cung cấp dịch vụ logistics bênthứ hai), nền tảng là các hãng vận tải thực tế.

Bên cạnh đó, cùng với xã hội hóa đầu tư, cần coi trọng xây dựng Kế hoạch phát triển dịchvụ logistics và bố trí bảo đảm nguồn NSNN hàng năm trong dự toán chi theo phân cấp quản lý các dự án, nhiệm vụ phù hợp (NSNN trung ương bảo đảm chi cho dự án của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chínhphủ).  Ủy ban tạo thuận lợi hóa thươngmại Quốc gia (Ủy ban Một cửa Quốc gia) nên có thêm chức năng quản lý và điều phối về mặt logistics và đóng vai trò nhạc trưởng chỉ đạo chung quá trình triển khai Kế hoạchhành động, để phát triển thị trường dịch vụlogistics lành mạnh, tạo cơ hội bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thànhphần kinh tế phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Namlà thành viên...

 

 

  Các bài viết mới
▪  Hội đồng tiền lương quốc gia chốt mức lương tối thiểu vùng năm 2018  (17/01/2018)
▪  Triển vọng tăng trưởng đầu tư FDI từ Hoa Kỳ  (17/01/2018)
▪  Doanh nghiệp trong kinh tế thị trường  (17/01/2018)
▪  Đầu tư từ các nước thành viên ASEAN vào Việt Nam giữ nhịp tăng trưởng ổn định và đều đặn.  (17/01/2018)
▪  Bối cảnh kinh tế 2017 và định hướng chính sách tiền tệ  (17/01/2018)
▪  Hội nhập kinh tế quốc tế, cơ hội và thách thức cho Doanh nghiệp Việt Nam  (17/01/2018)
▪  Vinh danh thương hiệu Việt Nam  (17/01/2018)
▪  Đầu tư từ các nước thành viên ASEAN vào Việt Nam giữ nhịp tăng trưởng ổn định và đều đặn.  (13/11/2017)
▪  Triển vọng tăng trưởng đầu tư FDI từ Hoa Kỳ  (01/11/2017)
▪  Sự trở lại của nhà đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam  (24/10/2017)
 
 
Mạng lưới Xúc tiến đầu tư