Trang này tất cả
search  
8/1/2008 9: 21: 15 AM
  Trang chủ | Site map | Liên hệ
Thông tin thời tiết
Tỷ giá
Thị trường chứng khoán
Mã CK TC Khớp lệnh +/-
Giá KL
 
 
:: Đồng hành cùng Nhà đầu tư » Chi tiết
Doanh nghiệp trong kinh tế thị trường

Qua hơn 30 năm chuyển đổi từ nền kinh tếkế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường, đã diễn raquá trình thay đổi to lớn trong việc phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam.

 

Vinamilk, một doanh nghiệp nhà nước có mức tăng trưởng nhanh chóng, có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế

Vinamilk, một doanh nghiệp nhà nước có mức tăng trưởng nhanh chóng, có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế

 

Từ chỗ nền kinh tế dựa chủyếu vào doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, HTX tiểu thủcông nghiệp, HTX mua bán, hiện nay nước ta đã có trên 620.000 doanh nghiệp tưnhân, hơn 20.000 doanh nghiệp có vốn đầutư trựctiếp nước ngoài (FDI). Phần lớn doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa, sốdoanh nghiệp 100% vốn nhà nước chủ yếu là những tập đoàn lớn.

Nghị quyết IV của Ban Chấp hành Trung ương Đảng(Khóa XII) nhận định: “Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hìnhthành đồng bộ hơn, gắn kết với thị trường khu vực và thế giới. Hầu hết các loạigiá hàng hoá, dịch vụ được xác lập theo cơ chế thị trường. Môi trường đầu tư,kinh doanh được cải thiện và thông thoáng hơn; quyền tự do kinh doanh và cạnhtranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được bảo đảmhơn”.

Nghị quyết cũng chỉ ra nhược điểm: “Hiệu quả hoạtđộng của các chủ thể kinh tế, các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế cònnhiều hạn chế. Việc tiếp cận một số nguồn lực xã hội chưa bình đẳng giữa cácchủ thể kinh tế. Cải cách hành chính còn chậm. Môi trường đầu tư, kinh doanhchưa thực sự thông thoáng, mức độ minh bạch, ổn định chưa cao. Quyền tự do kinhdoanh chưa được tôn trọng đầy đủ. Quyền sở hữu tài sản chưa được bảo đảm thựcthi nghiêm minh”.

Khắc phục những nhược điểm trên đây sẽ tạo ra độnglực mới cho sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp ở nước ta.

-I-

Đã có thời kỳ dư luận xã hội kỳ thị kinh tế tư nhân,chỉ coi trọng kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Hiện nay thì ngược lại,không ít người gắn kinh tế quốc doanh với kinh doanh kém hiệu quả, đề cao kinhtế tư nhân như là cứu cánh của sự phát triển. Dù thiên kiến bên nào thì cũnglệch lạc, dẫn đến các chủ trương chính sách không thích hợp, cản trở hoạt độngcủa các khu vực kinh tế trong nền kinh tế quốc dân.

Doanh nghiệp nhà nước có Vinashin, Vinalines là điểnhình của tình trạng lãng phí, tham nhũng, kém hiệu quả, nhưng cũng có Viettel,Vinamilk đã tăng trưởng nhanh chóng, là hai thương hiệu có uy tín trên thịtrường trong nước và thị trường ngoài nước.

Doanh nghiệp tư nhân có Vingroup, Sungroup, hai tậpđoàn kinh tế hoạt động thành công trong nhiều ngành và lĩnh vực, được ngườitiêu dùng tín nhiệm.

Vì thế, không thể và không nên đánh giá tầm quantrọng của doanh nghiệp dựa trên quyền sở hữu vốn kinh doanh, mà phải dựa trênhai tiêu chí:

Thứ nhất là hiệu quả kinh tế - xã hội. Trừ một số ítdoanh nghiệp công ích, doanh nghiệp xã hội kinh doanh không vụ lợi, thì lợinhuận là mục đích quan trọng nhất của doanh nghiệp, vì động cơ sinh lợi đã kíchthích doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh, tích lũyvốn mở rộng quy mô và thị trường. Đất nước cần nhiều doanh nghiệp với quy môngày càng lớn, đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của địaphương, của quốc gia trong từng giai đoạn phát triển.

Thứ hai là cơ chế thị trường. Doanh nghiệp kinhdoanh trong môi trường sinh thái thuận lợi, tự do cạnh tranh với hành lang pháplý ổn định, công khai, minh bạch; được đối xử bình đẳng trong việc tiếp cận thịtrường, cơ hội đầu tư và kinh doanh, nguồn lực tài chính, tíndụng.  Nhà nước quản lý theo hướng tạo thuận lợi cho kinh doanh của doanhnghiệp, can thiệp khi cần thiết để tránh tình trạng độc quyền, cạnh tranh khônglành mạnh làm méo mó quan hệ thị trường.

Hai tiêu chí đó là cơ sở để hình thành hệ thống đánhgiá hiệu quả kinh tế - xã hội của mọi loại hình doanh nghiệp, từ đó Nhà nước đềra chính sách và định hướng phát triển doanh nghiệp hướng đến mục tiêu kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn.

-II-

Bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực dựa trên hiệu quảkinh tế - xã hội, chứ không phải căn cứ vào chủ sở hữu, quy mô doanh nghiệp lànhân tố quan trọng để sử dụng nguồn lực (luôn có hạn) vào những dự án và côngviệc có lợi cho sự phát triển đất nước.

Tháogỡ khó khăn, vướng mắc để doanh nghiệp thật sự bình đẳng trong tiếp cận cácnguồn lực đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường.

Hiện nay, việc tiếp cận nguồn lực như đất đai, vốnđầu tư công, tín dụng ngânhàng,các quỹ đầu tư chưa bảo đảm sự công bằng và bình đẳng giữa các loại hình doanhnghiệp. Thực trạng đó thể hiện qua các vấn đề sau:

Thứ nhất, tiếp cận đất đai. Theo Phòng Thương mại vàCông nghiệp Việt Nam (VCCI) thì, “năm 2016, tình hình sử dụng đất theo đánh giácủa doanh nghiệp trở nên bấp bênh hơn bao giờ hết... rủi ro bị thu hồi đất caokỷ lục”. Trong khi một số doanh nghiệp lớn được cấp khá dễ hàng chục héc-tađất, nhưng không hoặc chậm triển khai, gây lãng phí nghiêm trọng, nhưng chậm xửlý, thì nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) gặp khó khăn trong việc làm thủtục để được sử dụng một vài ngàn mét vuông đất.

Thứ hai, tiếp cận nguồn lực tài chính đối với SMEsrất khó khăn, nhiều cơ hội bị bỏ lỡ do thiếu vốn kinh doanh. Trong khi đã xảyra tình trạng đầu tư không có hiệu quả, lãng phí nghiêm trọng hàng trăm ngàn tỷđồng của các dự án thuộc một số tập đoàn kinh tế nhà nước như Tập đoàn Dầu khí,Tập đoàn Điện lực; nhiều dự án BOT về giao thông đã tăng vốn gấp đôi so với dựtoán, làm cho chi phí xây dựng 1 km đường bộ cao tốc ở nước ta gấp hai đến balần so với một số nước, sau khi kiểm toán đã điều chỉnh rút bớt thời gian hoànvốn hàng chục năm.

Thứ ba, tiếp cận tín dụng ngân hàng mặc dù đã đượcmột vài ngân hàng thương mại đưa ra các gói tín dụng ưu đãi cho SMEs, nhưng chỉkhoảng 25 - 30% tăng trưởng tín dụng hàng năm được dành cho các doanh nghiệpnày, do điều kiện tiếp cận tín dụng khá khó khăn, nhất là thế chấp bằng bấtđộng sản,trong khi ở nhiều nước đã thực hiện phổ biến thế chấp bằng động sản, chứng từcó giá.

Thứ tư, tiếp cận các quỹ hỗ trợ của Nhà nước gặpkhông ít rào cản từ thể chế, luật pháp. Vài năm gần đây, Chính phủ đã thành lậpmột số quỹ hỗ trợ về đổi mới công nghệ, hỗ trợ SMEs, nhiều địa phương đề rachính sách khuyến khích, hỗ trợ đối với doanh nghiệp. Tuy vậy, theo Nhóm nghiêncứu của Trường đại học Kinh tế (thuộc Đại học Quốc gia) thì hoạt động của cácquỹ hỗ trợ  ít có tác dụng. Điển hình là Quỹ Đổi mới công nghệ (NATIF)được thành lập theo Quyết định 1342 QĐ - TTg ngày 5/8/2011, nhưng đến năm 2015 mớibắt đầu hoạt động, đến tháng 3/2017 mới ký được 3 hợp đồng tài trợ, nhưng chưathực hiện. Giám đốc NATIF cho biết, khó khăn của Quỹ là chịu sự điều chỉnh củanhiều luật như Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đấu thầu... không phù hợp với cơchế hoạt động của Quỹ, nên rất khó triển khai.

Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để doanh nghiệp thật sựbình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung, hoànthiện thể chế kinh tế thị trường, trên cơ sở đó thực thi nghiêm chỉnh thể chếbằng bộ máy và đội ngũ công chức chuyên nghiệp, hướng dẫn và hỗ trợ doanhnghiệp.

-III-

Nhà nước đã có định hướng và chính sách phát triểnđối với từng loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệpngoài nhà nước và doanh nghiệp FDI.

Việc thực hiện cổ phần hóa và nâng cao hiệu quảdoanh nghiệp nhà nước đã được triển khai trong hơn hai thập niên, đang ở vàogiai đoạn cuối để định hình khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thịtrường.

Với doanh nghiệp tư nhân, Nghị quyết IV, Ban Chấphành Trung ương Đảng (Khóa XII)  đã khẳng định: “Kinh tế tư nhân là mộtđộng lực quan trọng để phát triển kinh tế. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thểcùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tựchủ”. Nghị quyết đã đề ra hệ thống quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế tưnhân nhằm mục tiêu đến năm 2030, nước ta có khoảng 2 triệu doanh nghiệp tưnhân, đóng góp 60 - 65% GDP.

Với doanh nghiệp FDI, năm nay tròn 30 năm Quốc hộithông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (29/12/1987), cần tiến hành tổngkết đánh giá thành tựu to lớn và vấn đề nảy sinh. Trong ba thập niên, trong đócó 12 năm chịu tác động của khủng hoảng kinh tế, từ 1997 đến 2004 và từ 2008đến 2011, nên FDI sụt giảm, nhưng nhìn tổng quát thì FDI là động lực tăngtrưởng mạnh mẽ của nước ta, hiện đang chiếm 20% tổng vốn đầu tư xã hội, đónggóp 20% GDP, khoảng 50% giá trị sản lượng công nghiệp, 72% kim ngạch xuất khẩu,tạo việc làm cho gần 4 triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động dịch vụ,trong đó có đội ngũ các nhà quản trị, công nghệ, kinh tế và công nhân lànhnghề. Tuy vậy, đã nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường sinh thái, chuyển giá,trốn, lậu thuế, tranh chấp lao động.

Trong điều kiện đất nước đang chuyển sang giai đoạnmới, tình hình đầu tư của thế giới đang chuyển biến có lợi cho Việt Nam thìChính phủ cần dựa trên kinh nghiệm thực tế để đề ra định hướng mới thu hút FDItheo hướng hiệu quả, bền vững, tiếp cận với công nghệ và dịch vụ tương lai củacuộc cách mạng công nghệ 4.0.

Một vấn đề có tính thời sự là tạo lập mối liên kếtgiữa doanh nghiệp FDI, nhất là các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs) với doanhnghiệp trong nước để doanh nghiệp Việt Nam trong từng ngành hàng tham gia cóhiệu quả hơn chuỗi giá trị toàn cầu, từng bước hình thành thương hiệu mạnh trênthị trường trong nước và thị trường thế giới, để tác động lan tỏa của khu vựcFDI ngày càng lớn hơn.

Việc hình thành chuỗi cung ứng sản phẩm do phân côngvà hợp tác giữa các tập đoàn kinh tế trong nước với SMEs, như mô hình Vingroupđã hình thành, cần được khuyến khích phát triển để tạo nên năng lực cạnh tranhlớn hơn trên thị trường trong nước, khi rào cản thuế quan và phi thuế quan đãđược dỡ bỏ, đồng thời tham gia thị trường thế giới có hiệu quả hơn khi nước tađã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới.

Mặc dù còn phải đương đầu với những thách thức lớndo tác động của tình hình chính trị và kinh tế thế giới, do chính những yếu kémcủa doanh nghiệp và nền kinh tế đất nước, nhưng theo điều tra của VCCI thì năm2016 có 65% doanh nghiệp kinh doanh có lãi, mức cao nhất trong 5 năm gần đây,gần một nửa doanh nghiệp dự kiến mở rộng quy mô trong hai năm tiếp theo.

Có thể hình dung rằng, hầu như bài toán phát triểndoanh nghiệp hoặc đã có, hoặc sẽ tìm được lời giải. Hành động nhanh của bộ máycông chức nhà nước và các nhà quản trị doanh nghiệp để tranh thủ giai đoạnthuận lợi của đất nước là nhân tố quyết định của việc thực hiện mục tiêu pháttriển doanh nghiệp đến năm 2020 và 2030.

  Các bài viết mới
▪  Đầu tư từ các nước thành viên ASEAN vào Việt Nam giữ nhịp tăng trưởng ổn định và đều đặn.  (17/01/2018)
▪  Bối cảnh kinh tế 2017 và định hướng chính sách tiền tệ  (17/01/2018)
▪  Hội nhập kinh tế quốc tế, cơ hội và thách thức cho Doanh nghiệp Việt Nam  (17/01/2018)
▪  Vinh danh thương hiệu Việt Nam  (17/01/2018)
▪  Đầu tư từ các nước thành viên ASEAN vào Việt Nam giữ nhịp tăng trưởng ổn định và đều đặn.  (13/11/2017)
▪  Triển vọng tăng trưởng đầu tư FDI từ Hoa Kỳ  (01/11/2017)
▪  Sự trở lại của nhà đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam  (24/10/2017)
▪  Tọa đàm với các doanh nghiệp tỉnh Aichi Nhật Bản khu vực phía Nam lần thứ 32  (23/10/2017)
▪  NSN CONSTRUCTION & ENGINEERING JOINT STOCK COMPANY  (18/04/2017)
▪  Hội nghị Xúc tiến Đầu tư vào tỉnh Ninh Thuận năm 2016  (01/09/2016)
 
 
Mạng lưới Xúc tiến đầu tư