Trang này tất cả
search  
8/1/2008 9: 21: 15 AM
  Trang chủ | Site map | Liên hệ
Thông tin thời tiết
Tỷ giá
Thị trường chứng khoán
Mã CK TC Khớp lệnh +/-
Giá KL
 
 
:: Đồng hành cùng Nhà đầu tư » Chi tiết
Hệ thống phát triển hạ tầng, hệ thống thong tin và ứng dụng công nghệ trong logistics

Toàncầu hóa nền kinh tế thế giới làm giao thương giữa các quốc gia, các khu vựcphát triển mạnh mẽ, tất yếu sẽ kéo theo những nhu cầu mới về vận tải, kho bãi,các dịch vụ phụ trợ…, dẫn đến bước phát triển của logistics toàn cầu.

 

Hệthống cơ sở hạ tầng logistics bao gồm cơ sở hạ tầng vật lý như hệ thống giaothông, cầu cảng… và cơ sở hạ tầng mềm như nguồn nhân lực, hệ thống chính sách,luật lệ, thủ tục… Để phát triển, quản lý tốt và hiệu quả tất cả hệ thống hạtầng đó, không thể không quan tâm vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin. Cơ sở hạtầng mềm kỹ thuật số đóng vai trò rất quan trọng đối với thương mại trong thếkỷ 21 bởi các thông tin về sự di chuyển của hàng hóa hiện nay hết sức quantrọng.

 

Theodự báo, trong vài thập niên đầu thế kỷ 21, một trong ba xu hướng phát triểnchính của logistics toàn cầu là logistics điện tử. Mạng thông tin toàn cầu đã,đang và sẽ tác động rất lớn đến nền kinh tế toàn cầu.

 

Nóimột cách cụ thể, hệ thống thông tin logistics giúp các nhà quản trị DN nắm vữngthông tin về biến động của nhu cầu, thị trường và nguồn cung ứng, từ đó chủđộng lên kế hoạch mua hàng, giao hàng, dự trữ, mua dịch vụ vận tải… một cáchhợp lý, vừa thỏa mãn yêu cầu của khách hàng lại vừa có mức chi phí thấp nhất.Ngoài ra, hệ thống thông tin logistics còn góp phần đảm bảo sự linh hoạt trongcác hoạt động logistics, xây dựng chương trình logistics hiệu quả, chỉ rõ thờigian, không gian và phương pháp vận hành các chu kỳ hoạt động trong logistics.Hệ thống thông tin phục vụ quản trị dây truyền cung ứng được truyền càng nhanhvà chính xác thì các quyết định trong hệ thống logistics càng hiệu quả. Thựctế, tại các nước có ngành logistics phát triển như Singapore, Hong Kong.. việcứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử như hệ thống thông tin quảntrị dây chuyền cung ứng toàn cầu, công nghệ nhận dạng bằng tần số vô tuyến...đang ngày càng được áp dụng rộng rãi trong kinh doanh.

 

Quátrình xâm nhập và khẳng định mình của công nghệ thông tin trong quản trị chuỗicung ứng có thể được điểm qua bằng những sản phẩm công nghệ nổi tiếng cùng mốcthời gian ra đời của những sản phẩm đó. Ra đời trong giai đoạn sơ khai của CNTTứng dụng trong DN những năm 90 của thế kỷ XX, phần mềm hoạch định nguồn lựcdoanh nghiệp (ERP) cho phép các DN, tổ chức thống nhất các cơ sở dữ liệu để tạothành cột sống thông tin, thông qua 2 hệ thống lập kế hoạch là: hệ thống lập kếhoạch cho chuỗi cung ứng (SCP) và hệ thống thực hiện chuỗi cung ứng (SCE), chophép DN đạt được các mục tiêu về rút ngắn thời gian giao hàng, sản xuất sảnphẩm theo hướng thỏa mãn các yêu cầu cá nhân và sự gắn kết ngày càng mạnh mẽgiữa các nhân tố trong chuỗi logistics. Đến những năm đầu của thiên niên kỷmới, hàng loạt phần mềm đã được ra đời, hỗ trợ đắc lực cho DN trong việc theosát các dự án tối ưu của mình, đặc biệt là khả năng kết nối nội bộ với các đốitác đầu vào và đầu ra. Các mô hình quản trị truyền thống được thay thế bằng cáchình thức tổ chức hoạt động đa kênh, kết nối nhiều DN khác nhau dưới sự quản lýcủa chính các bên tham gia vào chuỗi cung ứng, thông qua các phần mềm logisticstrong 3PL, 4PL.

 

Ngoàira, CNTT còn được dùng để cải thiện việc giám sát tàu ở cảng, hỗ trợ trong việcxếp dỡ, vận chuyển và lưu trữ hàng hóa., giám sát sự an toàn của vùng biển vàgiải quyết giấy tờ để tàu có thể ra vào cảng nhanh chóng và dễ dàng...

 

Hạtầng thông tin và truyền thông Việt Nam tuy đã phát triển, cung cấp dịch vụ chonhiều ứng dụng dân dụng và xã hội, tuy nhiên còn thiếu nhiều ứng dụng chuyênngành, nhất là cho logistics.

 

Khókhăn của việc ứng dụng các giải pháp tự động hóa trước hết là vốn đầu tư, khảnăng quản lý vận hành, bảo trì sửa chữa - trình độ chuyên môn của nhân viên.

 

Tronglĩnh vực Giao thông vận tải, là lĩnh vực mà thông tin chuyên ngành logisticsđược quan tâm nhiều nhất, hiện nay, kiến trúc ứng dụng CNTT của Bộ còn chưađược hoàn thiện, tuy đã có định hướng CSDL dùng chung, nhưng chưa được xâydựng; nguồn nhân lực CNTT chưa đồng đều; chưa xác định lộ trình triển khai vàcơ chế huy động nguồn vốn phù hợp; bên cạnh đó chưa có kết nối liên thông cáclĩnh vực giữa Bộ GTVT với các ngành, địa phương khác và công tác đảm bảo anninh an toàn cho các hệ thống chưa được coi trọng đúng mức. Thông tin liên kếtgiữa các nhà cung cấp dịch vụ cùng phương thức và giữa các phương thức vận tảichưa được thực hiện. Các ứng dụng tận dụng nguồn lực phương tiện mới bắt đầugần đây với vận tải hành khách và một vài “sàn giao dịch vận tải” nhưng chưagiải quyết được những vấn đề thực tế phát sinh.

 

Tronglĩnh vực kho bãi, hệ thống phân phối: chưa có một hệ thống kết nối dịch vụ đểcộng đồng logistics cũng như người sử dụng dịch vụ khai thác nhằm tối ưu hóanguồn lực hạ tầng kho bãi, tồn trữ, phân phối. Rất nhiều kho hàng không có hệthống quản lý dịch vụ kho hàng chuyên nghiệp, dịch vụ gia tăng giá trị, hỗ trợquản lý điều hành theo mô hình 3PL.

 

Hệthống thông tin hàng hóa xuất nhập khẩu quản lý bởi Tổng cục Hải quan được duytrì ổn định và đã tiến đến ứng dụng Hải quan điện tử - một cửa Quốc gia. Tuyvậy, nhu cầu kết nối với nhiều bên liên quan hơn và yêu cầu tăng cường các chứcnăng ứng dụng toàn diện cho hoạt động thương mại, giao nhận vận tải, thanh toánquốc tế như cách mà hệ thống Trade Exchange của Singapore thực hiện cách đây 19 năm vẫn còn là thách thức lớn vớiViệt Nam.

 

Hệthống quản lý giao nhận (FMS), quản lý vận tải (TMS), quản lý kho hàng (WMS),quản lý nguồn lực (ERP) trong nội bộ các công ty chỉ được ứng dụng rời rạc tạicác nhà cung cấp dịch vụ, ứng dụng điện toán đám mây cũng còn rất xa lạ với cáccông ty. Đa số công ty trong nước không đủ điều kiện về hệ thống thông tin đápứng yêu cầu dịch vụ của khách hàng quốc tế.

 

Sốlượng nhà cung cấp giải pháp công nghệ thông tin logistics chuyên nghiệp trongnước là quá ít, quy mô nhỏ, thực tế không có thương hiệu uy tín nào và tổng sốhoạt động tích cực hay có giải pháp ứng dụng được là chưa tới 10 đơn vị. Cáccông ty khởi nghiệp đã có nhưng gặp nhiều khó khăn về vốn và nhân lực. Bản thâncác công ty logistics khi tìm kiếm giải pháp ứng dụng cũng gặp nhiều trở ngạido năng lực cung cấp giải pháp và bảo đảm hỗ trợ kỹ thuật chưa chắc chắn.

 

Dườngnhư chưa có đề tài nghiên cứu ứng dụng hay phát triển sản phẩm nào trong lĩnhvực công nghệ thông tin logistics được tài trợ bởi ngân sách nghiên cứu khoahọc hay quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia (NATIV).

 

Cáchệ thống hỗ trợ dịch vụ hàng hóa hàng không như Vận đơn điện tử (e-AirwayBill), Mạng lưới dịch vụ hàng hóa (Cargo Community Network),… chưa được phổbiến. Chưa có một trung tâm tự động hóa xử lý hàng hóa hàng không nào trong khiđó lượng hàng hóa CPN và qua đường hàng không tăng nhanh chóng mặt, tại mộtcông ty dịch vụ trong nước, mức tăng trưởng được khẳng định không dưới 50%/năm.

 

Nhữnghạn chế này đang làm cho doanh nghiệp trong nước cạnh tranh vất vả với cácdoanh nghiệp nước ngoài. Có thể nói, ở Việt Nam, một trong những nguyên nhânlàm cho dịch vụ logistics của nhiều doanh nghiệp cung cấp thiếu tin cậy là dotrình độ ứng dụng công nghệ thông tin kém.

 

Hiệnnay, có nhiều giải pháp đầu tư CNTT hiệu quả với chi phí thấp, các doanh nghiệpvừa và nhỏ cần nắm bắt cơ hội này để trang bị cho mình. Chẳng hạn, công ty Tâncảng Sài Gòn đã áp dụng hệ thống phần mềm quản lý container tại cảng Cát Láilàm giảm được nhiều thời gian chờ đợi, lấy hàng khỏi cảng, góp phần vào việcgiải tỏa tắc nghẽn tại cảng này. Vấn đề còn lại là nhận thức được tầm quantrọng và bức thiết của vấn đề, quyết tâm nâng cao trình độ tiếp cận và sử dụngCNTT trong giới quản lý và nhân viên, đồng thời với việc vạch ra một lộ trìnhtriển khai phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nên dành mộtphần ngân sách để đầu tư vào CNTT nhằm ứng dụng hiệu quả những phần mềm mới cầnthiết cho hoạt động. Các công ty logistics có thể hướng đến sự hợp tác với cáccông ty phần mềm để đặt hàng những ứng dụng chuyên biệt với công ty, qua đó cóthể tận dụng tối đa hiệu quả của từng ứng dụng. Đồng thời doanh nghiệp cũng cầnđội ngũ nhân lực có chuyên môn CNTT để áp dụng hiệu quả CNTT vào việc kinhdoanh. Doanh nghiệp có thể kết hợp với các trung tâm đào tạo nguồn nhân lựchoặc các trường đại học để đào tạo đội ngũ cán bộ CNTT có kiến thức vềlogistics; Hoặc có thể sử dụng các khóa đào tạo tại chỗ theo yêu cầu của doanhnghiệp để nhân sự được huấn luyện theo đúng tính chất công việc của mình.

 

Đểhỗ trợ, định hướng cho doanh nghiệp, các Bộ ngành, cơ quan địa phương cũng cầnxác định trách nhiệm liên quan trong việc nâng cao ứng dụng trình độ công nghệthông tin trong phát triển ngành logistics. Chính phủ cần có những chính sáchthu hút đầu tư gắn liền với tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiêncứu và chuyển giao các ứng dụng CNTT phù hợp thực tiễn hoạt động của các doanhnghiệp logistics, đặc biệt là các SME. Các cơ quan quản lý cần tạo điều kiệntuận lợi cho Doanh nghiệp áp dụng CNTT vào dịch vụ logistics, bằng cách cónhững chính sách phát triển, hỗ trợ tài chính cho việc ứng dụng CNTT tronglogistics. Như vậy doanh nghiệp mới có thể thực hiện những dự án lớn, áp dụngcông nghệ hiện đại, công ty vừa và nhỏ cũng có thể áp dụng CNTT vào hoạt độngcủa mình./.

  Các bài viết mới
▪  Dịch vụ logistic Việt Nam những nốt thắt cần phải đột phá  (17/01/2018)
▪  Hội đồng tiền lương quốc gia chốt mức lương tối thiểu vùng năm 2018  (17/01/2018)
▪  Triển vọng tăng trưởng đầu tư FDI từ Hoa Kỳ  (17/01/2018)
▪  Doanh nghiệp trong kinh tế thị trường  (17/01/2018)
▪  Đầu tư từ các nước thành viên ASEAN vào Việt Nam giữ nhịp tăng trưởng ổn định và đều đặn.  (17/01/2018)
▪  Bối cảnh kinh tế 2017 và định hướng chính sách tiền tệ  (17/01/2018)
▪  Hội nhập kinh tế quốc tế, cơ hội và thách thức cho Doanh nghiệp Việt Nam  (17/01/2018)
▪  Vinh danh thương hiệu Việt Nam  (17/01/2018)
▪  Đầu tư từ các nước thành viên ASEAN vào Việt Nam giữ nhịp tăng trưởng ổn định và đều đặn.  (13/11/2017)
▪  Triển vọng tăng trưởng đầu tư FDI từ Hoa Kỳ  (01/11/2017)
 
 
Mạng lưới Xúc tiến đầu tư