Trang này tất cả
search  
8/1/2008 9: 21: 15 AM
  Trang chủ | Site map | Liên hệ
Thông tin thời tiết
Tỷ giá
Thị trường chứng khoán
Mã CK TC Khớp lệnh +/-
Giá KL
 
 
:: Đồng hành cùng Nhà đầu tư » Chi tiết
Hiệp định thương mại tự do song phương Việt – Hàn, cơ hội và thách thức

     Theo trung tâm WTO thuộc Phòng Thươngmại và công nghiệp Việt Nam thì tính đến tháng 4/2018, Việt Nam làthành viên của nhiều tổ chức quốc tế lớn, đã hoàn tất đàm phán vàký kết 12 Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương với cácquốc gia và khu vực. Hiện tại, Chính phủ đang đàm phán 4 FTA gồm:Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA); Hiệp định RCEP giữaAsean với 6 đối tác chiến lược gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,Ấn Độ, Australia và NewZealand; Hiệp định thương mại tự do Việt Nam –Khối EFTA; Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Israel,… Việc hộinhập với những “gã khổng lồ” mở ra nhiều cơ hội vàcùng nhiều thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam trong thời giantới khi mà các doanh nghiệp của Việt Nam phải bước ra sân chơi ở tầmthế giới. Cụ thể là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn QuốcVKFTA (Vietnam – Korea Free Trade Agreement) sau hơn hai năm có hiệu lực đãgóp phần nâng cấp quan hệ kinh tế giữa hai nước, thương mại hai chiềuđã tăng gần 87 lần trong hơn hai thập kỷ qua từ 0,5 tỷ USD năm 1992 lên45,1 tỷ USD năm 2016, dự kiến đến năm 2020 kim ngạch thương mại hai nướcsẽ đạt mức 100 tỉ USD. Tuy nhiên, có một thực tế là sau hơn 2 nămthực hiện VKFTA hàng hóa của Việt Nam trở thành đối tác xuất khẩulớn thứ ba của Hàn Quốc.

     Về lĩnh vực đầu tư, thì theo sốliệu báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tưthì tính đến 20/03/2018 Hàn Quốc hiện là quốc gia đầu tư trực tiếpnước ngoài lớn nhất vào Việt Nam với 6.760 dự án và tổng vốn đầutư đăng ký lên đến 59 tỷ USD. Như vậy, rõ ràng về đầu tư Việt Nam đanghưởng lợi từ VKFTA, tuy nhiên về thương mại thì Hàn Quốc vẫn là thịtrường dạng tiềm năng của Việt Nam. Trong thỏa thuận của VKFTA thìHàn Quốc cam kết cắt giảm 94,4% dòng thuế đối với hàng hóa củaViệt Nam, đổi lại Việt Nam cam kết cắt giảm gần 90% dòng thuế đốivới hàng hóa có nguồn gốc từ Hàn Quốc, vậy câu hỏi đặt ra đâu làcơ hội, đâu là thách thức và làm thế nào để Việt Nam khai thác hiệuquả được những cam kết mà hai nước đã ký kết trong VKFTA?

     Cơ hội và thách thức chokinh tế Việt Nam khi thực hiện VKFTA

     Cơ hội đối với nền kinhtế Việt Nam

     Thứnhất, mở rộng thị trường, tăng kim ngạch xuất khẩu

     Sau hơn 2 năm có hiệu lực, VKFTA đãgóp phần nâng cấp quan hệ kinh tế giữa hai nước lên một tầm cao mới.Cụ thể, theo trung tâm WTO thuộc Phòng Thương mại và công nghiệp ViệtNam kim ngạch thương mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc năm 2016 đạt hơn45,1 tỉ USD, tăng 20% so với năm 2015. Riêng 7 tháng năm 2017, giá trịtrao đổi hàng hóa đạt hơn 35,5 tỷ USD, tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm2016. Tuy nhiên, cán cân thương mại Việt Nam – Hàn Quốc đang trong trạngthái mất cân bằng với giá trị xuất khẩu ngày càng nghiêng về phíaHàn Quốc.

     Mặc dù vậy, Việt Nam là đối tác FTAđầu tiên được Hàn Quốc mở cửa thị trường đối mặt với mặt hàngnhạy cảm là tỏi, gừng… đây là hai nguyên liệu chính để chế biến mónkim chi. Trước khi có VKFTA, thuế suất 2 mặt hàng này rất cao (từ241-420%), sau khi có VKFTA, Hàn Quốc sẽ xóa bỏ thuế quan có lộ trìnhđối với 2 mặt hàng này có nguồn gốc từ Việt Nam. Đối với mặt hàngtôm của Việt Nam, Hàn Quốc áp thuế suất nhập khẩu 0% cho những lôhàng xuất khẩu trong hạn ngạch. Điều đáng mừng là mức hạn ngạch sẽđược Hàn Quốc nâng dần qua từng năm, chính sách ưu đãi này đã biếnHàn Quốc thành thị trường tiêu thụ tôm lớn thứ 5 của Việt Nam. Theobáo cáo của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam(VASEP) thì năm 2016 Việt Nam đã vượt qua Trung Quốc trở thành nướcxuất khẩu tôm nhiều nhất vào Hàn Quốc. Ngoài ra một số mặt hàng cólợi thế của Việt Nam như: dệt may, mật ong tự nhiên, trái cây nhiệtđới… cũng đang được Hàn Quốc đưa vào lộ trình giảm thuế.

     Thứhai, thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

     Theo số liệu của Cục Đầu tư nướcngoài thì đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tính đến tháng tính đến12/2017 đã có 126 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cóhiệu lực tại Việt Nam, trong đó đứng đầu là Hàn Quốc. Lũy kế cácdự án đầu tư còn hiệu lực thì Hàn Quốc hiện là quốc gia đầu tưtrực tiếp nước ngoài lớn nhất vào Việt Nam với 6.532 dự án và tổngvốn đầu tư đăng ký lên đến 57,66 tỉ USD (chiếm 18,1% tổng vốn đầu tư).Nhật Bản đứng thứ hai với 49,46 tỷ USD (chiếm 15,5% tổng vốn đầu tư),tiếp theo lần lượt là Singapore và Đài Loan, Britishvirgin Island, HồngKông.

     Thứba, lan tỏa công nghệ và tham gia vào chuỗi phân phối toàn cầu                 

     Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF),Hàn Quốc luôn được xếp vào nhóm những quốc gia có chỉ số sáng tạocao nhất thế giới. Số liệu của Bộ Thương mại, Công nghiệp và Nănglượng Hàn Quốc (MOTIE) cho thấy Hàn Quốc đang xuất khẩu chính cácsản phẩm công nghệ cao như: Thiết bị bán dẫn (9%) máy móc (9%), ô tô(9%), tàu bienr (7%), sản phẩm hóa dầu (10%), thiết bị LCD (5%). Việccác Tập đoàn kinh tế lớn của Hàn Quốc như Sámung Electronic. LGElectronic… đang đầu tư và kinh doanh có hiệu quả tại Việt Nam sẽ mởra cơ hội được tham gia vào các chuỗi phân phối toàn cầu cho các doanhnghiệp Việt Nam. Nếu khai thác tốt các liên kết ngang và liên kết dọctrong chuỗi phân phối, các doanh nghiệp Việt Nam có thể từng bước họchỏi đổi mới quy trình và công nghệ sản xuất (Nguyễn Thị Bích Ngọc,2016; Phan Quan Việt & Lê Thị Phượng Hoàng Yến, 2017).

     Thách thức đối với kinhtế Việt Nam

     Việt Nam tham gia các Hiệp định FTA,đặc biệt là các FTA thế hệ mới đặt kinh tế Việt Nam trước rấtnhiều thách thức. Phạm Việt Dũng (2016) chỉ ra rằng đó sẽ là sứcép cạnh tranh khốc liệt cho các doanh nghiệp trong nước, khái niệm“sân nhà” sẽ không còn, các rào cản về thuế dần mất tác dụng(Hoàng Hải, 2017). Một số mặt hàng có lợi thế của Việt Nam như gạo,thủy sản sẽ chỉ được hưởng ưu đãi trong phạm vi của hạn ngạch chophép (Đỗ Thu Hằng, 2016). Bên cạnh đó, thể chế và khung pháp luậtcủa Việt Nam cũng phải có nhiều điều chỉnh cho phù hợp, mà trướcmắt đó là các quyền sở hữu trí tuệ (Nguyễn Huy Hoàng, 2017), quyềncon người (Vũ Công Giao & Nguyễn Anh Đức, 2017). Việc nhận diệnchính xác những thách thức sẽ giúp doanh nghiệp và Chính phủ ViệtNam xây dựng được lộ trình và hoạch định được các giải pháp hợptác phù hợp. Tổng kết các phân tích của một số nhà nghiên cứutrước đây, chúng tôi xin khái quát một số thách thức chính mà nhàkinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt khi thực hiện VKFTA như sau:

     Thứnhất, thay đổi công nghệ và nâng cao chất lượng đội ngũ nguồn nhânlực

     Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh (Global Competitiveness Report) năm 2017của 137 nền kinh tế thì Việt Nam xếp thứ 55/137. Đây là bảng xếphạng đánh giá dựa trên 12 yếu tố, trong đó Việt Nam xếp cao ở quy môthị trường, hiệu quả thị trường lao động, y tế và giáo dục cơ bản.Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất chính là môi trường kinh doanh còn khó khăntrong tiếp cận tài chính, thiếu lao động trình độ cao, sau đó là thamnhũng và đạo đức người lao động kém.

 

     Mặt khác, khi thực hiện các cam kếttrong VKFTA, hàng hóa của các doanh nghiệp Việt phải đối mặt vớihàng hóa nước ngoài dẫn tới sự gia tăng áp lực cạnh tranh với cácdoanh nghiệp trong nước. Việt Nam sẽ không còn khái niệm “sân nhà” khi Hàn Quốc có lợi thế hơnhẳn Việt Nam về các lĩnh vực công nghệ, dịch vụ, chất lượng hànghóa cũng như năng lực quản lý. Các doanh nghiệp Hàn Quốc sau nhiềunăm làm việc trên thị trường Việt Nam, họ nhanh chóng thích nghi vàđáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việtchủ yếu là vừa và nhỏ sẽ khó lòng cạnh tranh với các doanh nghiệpHàn Quốc với số lượng doanh nghiệp mạnh cả về vốn, kỹ thuật vàkinh nghiệm trong quản lý. Chính vì vậy nếu không đổi mới về côngnghệ, nâng cao năng lực, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam sẽđứng trước nguy cơ phải thu hẹp quy mô, thậm chí bị loại khỏi thịtrường.

     Thứhai, vượt qua các rào cản tiếp cận thị trường

     Tham gia FTA thế hệ mới, Hàn Quốc sẽtự do hóa hơn 95% số hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam, đặc biệt trongđó có nhiều hàng hóa nông, thủy sản xuất khẩu chủ lực như tôm, cua,cá, hoa quả nhiệt đới, hàng dệt may, đồ gỗ,… Việt Nam cũng là mộttrong đối tác đầu tiên được Hàn Quốc mở cửa thị trường với nhữngsản phẩm đặc biệt nhạy cảm đối với nước này như tỏi, gừng, mậtong, khoai lang… Bên cạnh việc được hưởng ưu đãi về thuế quan thìchính các hàng rào kĩ thuật, an toàn vệ sinh, việc kiểm dịch khắtkhe có thể là những rào cản khiến hàng hóa Việt Nam khó vào đượcthị trường các nước đối tác FTA nói chung hay Hàn Quốc nói rieng(Bùi Thanh Quang và cộng sự, 2016). Chính vì vậy để vượt qua đượcrào cản và đáp ứng được nhu cầu khách hàng trên thị trường HànQuốc, các doanh nghiệp Việt cần nâng cao trình độ, chú trọng vào việcnâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp.

     Thứba, cải cách thể chế và hệ thống pháp luật theo hướng hội nhập

     Cũng theo diễn đàn kinh tế thế giới(WEF), Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh được chia làm 3 nhómchính theo 12 trụ cột, bao gồm: yêu cầu căn bản (thể chế, cơ sở hạtầng, kinh tế vĩ mô, giáo dục cơ bản và y tế); các yếu tố nâng caohiệu suất (giáo dục và đào tạo bậc cao, mức độ hiệu quả trên thịtrường hàng hóa, hiệu quả trên thị trường lao động, sự phát triểncủa hệ thống tài chính, trình độ công nghệ, quy mô thị trường) vàcác yếu tố về sự tinh vi và đột phá (mức độ tinh vi trong kinh doanh,khả năng đổi mới). Theo đó Báo cáo chỉ ra trụ cột thể chế tại ViệtNam đang ở mức trung bình (xếp thứ 79/137).

     Đối với các FTA thế hệ mới, cụ thểlà VKFTA đòi hỏi mức độ cam kết sâu kể cả về thể chế kinh tế. Vìvậy, việc xây dựng hệ thống quản lý, pháp luật, thể chế phù hợpđể thực hiện hiệu quả các cam kết là hết sức cần thiết và trởthành thách thức không nhỏ đối với Việt Nam. Trước sức ép buộc ViệtNam phải tiếp tục ban hành hệ thống luật, chính sách phù hợp camkết FTA trên tiêu chí: phù hợp, rõ ràng, khả thi, đồng bộ. Có nhưvậy mới tạo sự thống nhất giữa các cơ quan, cán bộ quản lý vàdoanh nghiệp. Cải cách hành chính là chìa khóa giúp doanh nghiệpthuận lợi hơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, Việt Namcần tận dụng hiệu quả các quyền trong cam kết, cơ chế minh bạch hóathông tin để sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại.

     Thứtư, thâm hụt thương mại tăng

     Theo hiệp định VKFTA, Việt Nam sẽ camkết cắt giảm thuế nhập khẩu khoảng 90% chủ yếu với mặt hàng côngnghiệp với Hàn Quốc như nguyên phụ liệu dệt may, nguyên liệu nhựa,linh kiện điện tử, xe tải và xe con từ 3000 phân khối trở lên, phụtùng ô tô, điện gia dụng, một số sản phẩm sắt thép và dây cáp điện…Đây là những mặt hàng xa xỉ, có giá trị gia tăng cao. Mặt khác, hàngxuất khẩu Việt được miễn thuế sang Hàn Quốc chủ yếu là hàng giacông chưa qua chế biến, mặt hàng thô. Việc này có thể đẩy Việt Namrơi vào thâm hụt thương mại kéo dài. Tuy nhiên, lợi ích thu được từhiệu quả nhập khẩu và xuất khẩu sẽ là động lực thúc đẩy các doanhnghiệp Việt Nam vươn lên ứng phó với thách thức cũng như giúp cho sảnxuất trong nước phát triển.

     Thứnăm, ô nhiễm môi trường

     Hiện nay, Hàn Quốc đứng đầu về sốdự án và số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, nhưngphân tích sâu hơn thì Hàn Quốc chỉ đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực côngnghiệp và công nghệ chế tạo. Theo Lê Hoàng Oanh (2016), Mai Thu Hiền& Nguyễn Ngọc Minh (2016) rác thải của lĩnh vực công nghiệp sẽkhó xử lý và có thời gian phân hủy kéo dài. Hơn nữa lĩnh vực côngnghiệp tiêu thụ rất nhiều năng lượng như điện, xăng dầu… đồng thờithải một lượng lớn khí thải CO2, SO2 vào môitrường. Đây là nguyên nhân chính đe dọa sự phát triển bền vững chokinh thế Việt Nam.

     Một số gợi ý để ViệtNam tham gia có hiệu quả hiệp định VKFTA

     Để tiếp nhận cơ hội và vượt quanhững thách thức do Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốcngoài tùy thuộc vào chính các doanh nghiệp Việt Nam thì cần có sựphối hợp giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Việt Nam cần đẩy mạnh việcnâng cao hiệu quả bộ máy quản lý, xây dựng, ban hành và thực thi cácchính sách, biện pháp điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước,đặc biệt là các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa để đápứng yêu cầu trong việc thực thi các cam kết các FTA thế hệ mới. Đểviệc hội nhập quốc tế có hiệu quả Việt Nam cần hoàn thiện thể chếkinh tế thị trường, cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giảnhóa để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, chú trọng tăng cường cảithiện môi trường kinh doanh, đào tạo và nâng cao trình độ, năng lực chocán bộ nhân viên để có thể sẵn sàng thực thi và áp dụng các điềukhoản trong hiệp định thương mại tự do hiệu quả.

     - Việt Nam cần nỗ lực đẩy mạnh việctái cấu trúc nền kinh tế, khắc phục kịp thời các hạn chế, bất cập,kịp thời sửa đổi, điều chỉnh một số quy định về pháp luật thươngmại, chính sách thu hút đầu tư để đáp ứng cam kết trong VKFTA theonguyên tắc và thông lệ quốc tế. Đẩy mạnh cải cách hành chính theohướng đơn giản, gọn nhẹ, công khai, minh bạch; tăng cường ứng dụng côngnghệ thông tin vào các lĩnh vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi chocác doanh nghiệp và phù hợp với các cam kết quốc tế.

     - Nhà nước cần thông tin, tư vấn chodoanh nghiệp trong các vấn đề liên quan tới cam kết hội nhập, đặcbiệt là thông tin về các FTA thế hệ mới nói chung hay VKFTA nói riêng.Nhà nước cần thiết lập đầu mối có thẩm quyền trong việc hướng dẫn,giải thích nội dung các cam kết một cách chính thức, cụ thể cho cácdoanh nghiệp, để các doanh nghiệp Việt có thể bảo vệ được quyền lợicủa chính mình khi hàng hóa nước ngoài đang chiếm lĩnh thị trườngtừ đó có những chiến lược đầu tư và chú trọng phát triển nhữngphân phúc có lợi thế cạnh tranh và biết tận dụng các công cụ pháplý mà Việt Nam có hiện có.

     Kết luận

     Hiệp định thương mại tự do song phươngViệt Nam – Hàn Quốc được coi là hiệp định thương mại tự do quan trọngđối với cả hai nước, là một trong những hiệp định thương mại đầutiên mà Việt Nam tham gia. Việc hoàn tất đàm phán, thực thi các camkết trong VKFTA thế hệ mới, nền kinh tế Việt Nam nói chung và cácdoanh nghiệp Việt Nam nói riêng sẽ tận dụng được nhiều cơ hội để mởrộng thị trường, tăng kim ngạch xuất khẩu, thu hút đầu tư của HànQuốc, nâng cao sức mạnh cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam ở các thịtrường lớn, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơnvào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, Việt Nam cũng phải đối mặtvới nhiều khó khăn, thách thức về gia tăng sức cạnh tranh của hànghóa, các rào cản tiếp cận thị trường, hệ thống quản lý pháp luật.Vấn đề đặt ra là cơ hội hay thách thức nhiều hay không là tùy thuộcvào chính bản thân doanh nghiệp Việt Nam bên cạnh sự phối hợp củadoanh nghiệp với các cơ quan quản lý Nhà nước.

  Các bài viết mới
▪  Một số định hướng giải pháp lớn nhằm tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta  (06/12/2018)
▪  Xu hướng đầu tư ra nước ngoài của một số nước Châu Á tại Việt Nam  (06/12/2018)
▪  30 năm thu hút FDI: Dấu ấn chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam.  (17/09/2018)
▪  Công nghệ số ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội của Việt Nam  (13/09/2018)
▪  Hội nghị " Hải Phòng - Sự lựa chọn tối ưu của Nhà đầu tư Hàn Quốc" tổ chức ngày 20/9/2018 tại khách sạn Rex  (23/08/2018)
▪  Cần Thơ đồng hành cùng nhà đầu tư  (10/08/2018)
▪  30 năm thu hút FDI: Suy ngẫm và hướng về phía trước  (02/08/2018)
▪  FDI với chuyển giao công nghệ  (02/08/2018)
▪  Doanh nghiệp tư nhân: Khó lớn vì đói vốn  (05/06/2018)
▪  Đầu tư từ Đông Bắc Á vào Việt Nam giữ vai trò chủ đạo và dẫn dắt tổng thể khối đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.  (24/05/2018)
 
 
Mạng lưới Xúc tiến đầu tư