Trang này tất cả
search  
8/1/2008 9: 21: 15 AM
  Trang chủ | Site map | Liên hệ
Thông tin thời tiết
Tỷ giá
Thị trường chứng khoán
Mã CK TC Khớp lệnh +/-
Giá KL
 
 
:: Đồng hành cùng Nhà đầu tư » Chi tiết
Hội đồng tiền lương quốc gia chốt mức lương tối thiểu vùng năm 2018

Tiền lương tốithiểu là một trong những nội dung cơ bản của chính sách tiền lương của Nhà nướctrong kinh tế thị trường. Ở Việt Nam, cùng với quá trình phát triển kinh tế -xã hội, chính sách tiền lương nói chung và tiền lương tối thiểu nói riêng, qua nhiềulần cải cách và cải tiến đã không ngừng hoàn thiện, phù hợp với mỗi giai đoạnphát triển của đất nước.

Năm 1995, Bộ luật Lao động ra đời đã chính thức luật hóa tiềnlương tối thiểu. Về khái niệm: Mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất, đượcấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơnnhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và mộtphần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng để tính các mứclương của các lao động khác.

Tiếp đến Bộ luật Lao độngnăm 2012, khái niệm về tiền lương tối thiểu tiếp tục được hoàn chỉnh: Mức lươngtối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất,trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của ngườilao động và gia đình họ. Mức lương tối thiểu được xác định theo tháng,tuần, ngày, giờ và được xác lập theo vùng, ngành. Căn cứ xác định và điều chỉnhmức lương tối thiểu vùng, gồm nhu cầu tối thiểu của người lao động và gia đìnhhọ, điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động. Hoànthiện cơ chế xác định và công bố mức lương tối thiểu, theo đó mức lương tối thiểuvùng do Chính phủ công bố trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốcgia (gồm đại diện của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Công đoàn Việt Namvà tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở Trung ương).

Như vậy, việc tiền lương tối thiểu được luật hóa sẽ là lướian toàn chung cho mọi người làm công ăn lương trong toàn xã hội, là sàn (thấpnhất) để các bên thỏa thuận tiền lương, đảm bảo mức sống tối thiểu cho ngườilao động làm công ăn lương, chống bóc lột. Nhận thức này phù hợp với tiêu chuẩnlao động quốc tế (Công ước 131 và Khuyến nghị 135 của ILO) và điều kiện kinh tếxã hội của Việt Nam.

Trong hoạch địnhchính sách tiền lương tối thiểu, việc xác định mức lương tối thiểu đã từng bướccải tiến dựa trên phương pháp khoa học. Tiền lương tối thiểu được điều chỉnhtăng dần phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng chi trả của doanhnghiệp, bảo đảm tiền lương thực tế và nhu cầu tối thiểu của người lao động. Thựchiện lộ trình thống nhất tiền lương tối thiểu, không phân biệt giữa các doanhnghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài; công bố mức lương tối thiểu 2 - 3 tháng trướcthời điểm áp dụng; hướng dẫn, tuyên truyền đầy đủ, kịp thời đã tạo thuận lợicho doanh nghiệp chủ động thực hiện.

Trong khu vực sản xuất kinh doanh, tiền lương tối thiểulà mức sàn thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận và trả lương ghi trong hợp đồnglao động và thỏa ước lao động tập thể, đảm bảo chính sách tiền lương tối thiểuđúng với nguyên tắc của thị trường. Chính sách tiền lương tối thiểu tham gia điềutiết quan hệ cung - cầu lao động, làm cho thị trường lao động phát triển sôi độnghơn; tiền lương trong khu vực sản xuất kinh doanh dần trả đúng giá trị lao động,phụ thuộc vào năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh (trên cơ sở tínhđúng, tính đủ chi phí tiền lương), mức sống của người lao động ngày được cảithiện, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa đồng thuận, hạn chế tranh chấplao động, đình công.

Tăngtiền lương tối thiểu ở Việt Nam

Nhưđã phân tích, tiền lương tối thiểu được xác định căn cứ vào nhu cầu tối thiểu củangười lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lươngtrên thị trường lao động. Vì vậy, để tiền lương tối thiểu thể hiện đúng vai tròcủa mình, bảo đảm tiền lương thực tế và từng bước bảo đảm nhu cầu tối thiểu củangười lao động thì việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu là cần thiết nhưng phảiphù hợp với năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp.

Việc tính toán,đề xuất tăng tiền lương tối thiểu hằng năm đều được tiến hành công khai, kháchquan trên cơ sở đưa ra nhiều phương án để thảo luận, thương lượng, quyết địnhtrong Hội đồng Tiền lương Quốc gia (gồm đại diện cơ quan quản lý lao động, tổchức công đoàn và tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở trung ương). Hiệnnay, phương án tăng tiền lương tối thiểu năm 2018 được đề xuất dựa trên các yếutố cơ bản như: (i) mức tiền lương bình quân của người lao động[1];(ii) các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội năm 2017[2];(iii) tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp; (iv) mức tăngtiền lương của người lao động trên thị trường lao động[3];(iv) nhu cầu tối thiểu của người lao động[4]và mức bảo đảm nhu cầu tối thiểu này[5].

Năm2017 - 2018, trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục hội nhập sâu rộng vào nềnkinh tế thế giới thì có rất nhiều thách thức đang tiếp tục được đặt ra đối vớicác doanh nghiệp của Việt Nam do phần lớn doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa vànhỏ, công nghệ còn lạc hậu, trình độ quản lý, năng suất lao động của người laođộng còn thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực. Đồng thời, năm 2018 quy địnhvề đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội được mở rộng (người lao động ký hợp đồnglao động từ 01 tháng trở lên thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc)và tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội có sự thay đổi (tiền lương làmcăn cứ đóng bảo hiểm xã hội đóng theo mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổsung khác) cũng có tác động lớn đến chi phí sản xuất của các doanh nghiệp. Đểtháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trong thời gian qua Chính phủ đã có nhiềugiải pháp, trong đó có giải pháp như giảm 0,5% tỷ lệ đóng vào quỹ bảo hiểm tainạn lao động, bệnh nghề nghiệp (Nghị định số 44/2017/NĐ-CP) và đề xuất với Ủyban thường vụ Quốc hội giảm 0,5% tỷ lệ đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp củangười sử dụng lao động (Nghị quyết số 34/NQ-CP ngày 7/4/2017 của Chính Phủ).

Chúng tôi cho rằng,mức tăng lương tối thiểu vài năm gần đây đã chậm lại so với trước, nếu như trướcđây mức tăng khoảng từ 12 - 17% thì nay chỉ ở mức 1 con số (chỉ tăng khoảng 6 -7%/năm). Điều này do lương tối thiểu đã gần sát với nhu cầu tối thiểu của ngườilao động. Mức tăng lương này phù hợp với nhu cầu, mong mỏi của người lao độngnhưng vẫn tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển.

 

Mứclương tối thiểu vùng, giai đoạn 05 năm từ năm 2012 đến nay như sau:

(Đơn vị tính: ngàn đồng)

 

Vùng

 

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

Năm 2018

Mức

Mức

Tăng

(%)

Mức

Tăng

(%)

Mức

Tăng

(%)

Mức

Tăng

(%)

Mức

Tăng

(%)

Mức

Tăng

(%)

1

2.000

2.350

17,5

2.700

14,89

3.100

14,81

3.500

12,90

3.750

7,14

3.980

6,13

2

1.780

2.100

17,98

2.400

14,28

2.750

14,58

3.100

12,73

3.320

7,09

3.530

6,32

3

1.550

1.800

16,13

2.100

16,67

2.400

14,28

2.700

12,50

2.900

7,41

3.090

6,55

4

1.400

1.650

17,85

1.900

15,15

2.150

13,16

2.400

11,63

2.580

7,50

2.760

6,98

 

Hệ thống chính sáchpháp luật lao động nói chung, chính sách tiền lương tiền lương, tiền lương tốithiểu, chính sách bảo hiểm xã hội nói riêng luôn gắn liền với những điều kiện,đặc điểm cụ thể của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Do đó,hệ thống chính sách về tiền lương và bảo hiểm xã hội cần được thường xuyênđánh giá, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn phát triển kinhtế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và xu hướng hội nhập quốc tế.

 

(Theo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP. Hồ Chí Minh,

tại Tọa đàm với doanh nghiệp tỉnh Aichi NhậtBản, tháng 10/2017)

 

 

1

 

(Ảnh: báo Người Lao động)



[1] Số liệu điều tra 2000 doanh nghiệp do Bộ Lao động –Thương binh và xã hội thực hiện ngày 01/7 hằng năm. Mức tiền lương bình quânthấp nhất doanh nghiệp thực trả theo 4 vùng năm 2016: vùng I là 3,84 triệuđồng/tháng, vùng II là 3,55 triệu đồng/tháng, vùng III là 3,10 triệu đồng/thángvà vùng IV là 2,66 triệu đồng/tháng, cao hơn mức lương tối thiểu vùng do Chínhphủ quy định năm 2016.

[2] Theo Nghị quyết của Quốc hội, chỉ số giá tiêu dùng(CPI) năm 2017 tăng 4%, thực tế bình quân 6 tháng đầu năm 2017 tăng 4,15% sovới cùng kỳ năm 2016; theo Nghị quyết của Quốc hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế(GDP) năm 2017 tăng 6,7%, thực tế 6 tháng đầu năm GDP tăng 5,73%; theo Quyếtđịnh 2544/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu năng suấtlao động xã hội giai đoạn 2016 – 2020 tăng bình quân 5%/năm, thực tế năm 2016tăng 5,3% so với năm 2015

[3] theo số liệu điều tra và báo cáo của các địa phươngcho thấy mức lương bình quân của người lao động trong các loại hình doanhnghiệp năm 2016 đạt 6,04 triệu đồng/người/tháng tăng 6,3% so với năm 2015; 6tháng đầu năm 2017 ước đạt 6,28 triệu đồng/người/tháng, tăng 4% so với năm 2016và ước thực hiện cả năm 2017 khoảng 6,50 triệu đồng/người/tháng, tăng khoảng 8%so với năm 2016

[4] Phương pháp tính nhu cầu tối thiểu của người lao độngdựa trên chi phí tối thiểu cho người lao động và chi phí nuôi con, trong đó:Chi phí cho người lao động, gồm chi phí lương thực, thực phẩm tính trên 45 mặthàng thiết yếu bảo đảm 2.300 Kcalo/ngày; Chi phí phi lương thực, thực phẩm; Chiphí nuôi con bằng 70% chi phí của người lao động thì nhu cầu sống tối thiểu củangười lao động và gia đình họ năm 2017: vùng I là 3,94 triệu đồng; vùng II là3,56 triệu đồng; vùng III là 3,18 triệu đồng và vùng IV là 2,80 triệuđồng/tháng.

[5] Mức lương tối thiểu vùng trong các năm vừa qua đangtừng bước bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Năm2016, mức lương tối thiểu vùng quy định tại Nghị định số 122/2015/NĐ-CP ngày 14tháng 11 năm 2015 của Chính phủ đáp ứng khoảng 89-93%; năm 2017, mức lương tốithiểu vùng quy định tại Nghị định số 153/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2016của Chính phủ đáp ứng khoảng 91-95% nhu cầu sống tối thiểu của người lao độngvà gia đình họ tùy theo từng vùng

  Các bài viết mới
▪  Triển vọng tăng trưởng đầu tư FDI từ Hoa Kỳ  (17/01/2018)
▪  Doanh nghiệp trong kinh tế thị trường  (17/01/2018)
▪  Đầu tư từ các nước thành viên ASEAN vào Việt Nam giữ nhịp tăng trưởng ổn định và đều đặn.  (17/01/2018)
▪  Bối cảnh kinh tế 2017 và định hướng chính sách tiền tệ  (17/01/2018)
▪  Hội nhập kinh tế quốc tế, cơ hội và thách thức cho Doanh nghiệp Việt Nam  (17/01/2018)
▪  Vinh danh thương hiệu Việt Nam  (17/01/2018)
▪  Đầu tư từ các nước thành viên ASEAN vào Việt Nam giữ nhịp tăng trưởng ổn định và đều đặn.  (13/11/2017)
▪  Triển vọng tăng trưởng đầu tư FDI từ Hoa Kỳ  (01/11/2017)
▪  Sự trở lại của nhà đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam  (24/10/2017)
▪  Tọa đàm với các doanh nghiệp tỉnh Aichi Nhật Bản khu vực phía Nam lần thứ 32  (23/10/2017)
 
 
Mạng lưới Xúc tiến đầu tư