Trang này tất cả
search  
8/1/2008 9: 21: 15 AM
  Trang chủ | Site map | Liên hệ
Thông tin thời tiết
Tỷ giá
Thị trường chứng khoán
Mã CK TC Khớp lệnh +/-
Giá KL
 
 
:: Đồng hành cùng Nhà đầu tư » Chi tiết
Hội nhập kinh tế quốc tế, cơ hội và thách thức cho Doanh nghiệp Việt Nam

Quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế của Việt Nam tronggiai đoạn gần 30 năm qua đã đạtđược những kết quả đáng ghi nhận. Việt Namđã gia nhập ASEAN (năm 1995), ký kết Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam-HoaKỳ (BTA) (năm 2000), gia nhập WTO (năm 2007) và tham gia 8 Hiệp định thương mạitự do (FTA) khu vực và song phương (Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), Hiệpđịnh khung về hợp tác kinh tế ASEAN - Trung Quốc và Hiệp định thương mạihàng hóa ASEAN - TrungQuốc, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Hàn Quốc, Hiệp định đối tác kinh tếtoàn diện ASEAN - Nhật Bản, Hiệp định thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN- Úc - Niu Di-lân, Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Ấn Độvà Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ). Việt Namcũng đã ký kết Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản (VJEPA) (năm 2008) và Hiệp định FTA song phương Việt Nam - ChiLê (năm 2011).

Việc hội nhập kinhtế quốc tế nói chung và hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN và ký kết, thực hiệncác FTA nói riêng sẽ mang lại những cơ hội lớn về phát triển kinh tế, thươngmại, đầu tư của nền kinh tế Việt Namnói chung và ngành công thương nói riêng. Cụ thể là:

Thứ nhất, việc thựchiện cam kết xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN và ký kết các FTA với các đối táckhác nhau sẽ giúp thúc đẩy xuất khẩu, tháo gỡ các rào cản thương mại đối vớicác mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnhnhư nông lâm thủy sản, giày dép, dệt may, v.v., đẩy mạnh sản xuất các mặt hàngcó tiềm năng xuất khẩu lớn và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước thamgia vào các chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị trong khu vực. Đâychính là một trong các nội dung quan trọng của Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 03tháng 01 năm 2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạođiều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2015.

Thứ hai, việc thựchiện cam kết trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN và các FTA cũng sẽ gópphần tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, bao gồm cả ngành côngthương. Lý do là các cam kết mở cửa, tạo thuận lợi và bảo hộ cho đầu tư sẽ cótác động trực tiếp đến đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Ngoài ra, triển vọngthương mại và vai trò cửa ngõ của Việt Nam trong nhiều khu vực thương mại tự dokhác nhau, đặc biệt là trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN, sẽ gián tiếp thu hút cácdoanh nghiệp nước ngoài gia tăng đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, tiêu dùngtại Việt Nam, vừa phục vụ thị trường 90 triệu dân của Việt Nam, vừa hướng racác thị trường khu vực 600 triệu dân và gần 3000 tỷ USD GDP hàng năm của ASEANvà xuất khẩu sang các thị trường Hoa Kỳ, EU, Nga, Hàn Quốc, v.v. FDI đã và sẽtiếp tục là một nguồn tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm tích cực và quan trọngcho nền kinh tế Việt Nam.

Thứ ba, việc thamgia xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN và ký kết các FTA với các đối tác khácnhau sẽ giúp đa dạng hóa và có khả năng tạo thế cân bằng hơn về quan hệ kinhtế, thương mại của Việt Nam với cácđối tác khu vực và thế giới, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thứ tư, một số FTA“thế hệ mới” có sự tích lũy các kinh nghiệm, tập quán, và thông lệ thực hànhtối ưu trên thế giới về hoạt động kinh doanh, đầu tư nên sẽ hướng đến việc tạora các khuôn khổ mới cho Việt Nam, phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốctế ngày càng sâu rộng. Đây chính là khía cạnh chủ động của Việt Nam trong hộinhập. Các khuôn khổ này vừa bắt buộc Việt Nam phải cải thiện môi trường kinhdoanh, môi trường đầu tư, nhưng cũng đồng thời cũng khuyến khích, thúc đẩy việckinh doanh và đầu tư của mọi thành phần kinh tế. Đơn cử như các quy định vềtăng cường minh bạch hóa, tạo thuận lợi, nâng cao tiêu chuẩn đối với lao độngvà môi trường để doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam phát triển bền vững. Điềunày phù hợp với một trọng tâm điều hành mà Chính phủ đang chỉ đạo quyết liệtthực hiện năm 2015, cụ thể là việc cải cách mạnh thủ tục hành chính, cải thiệntốt hơn môi trường kinh doanh để tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân vàdoanh nghiệp phát triển.

Thực tế cho thấy,việc hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa thị trường là một quyết sách đúng đắn củaĐảng và Nhà nước Việt Nam, được thểhiện thông qua những thành quả đạt được như sau:

- Đưa nền kinh tếđất nước phát triển vượt bậc về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, góp phầnvào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước. Cơ cấu kinh tế chuyển biến theohướng tích cực, phù hợp với chủ trương công nghiệp hóa đất nước; 

- Cải cách và hoànthiện hệ thống pháp luật, qua đó tạo điều kiện cải thiện môi trường đầu tư theohướng minh bạch, thông thoáng hơn, từ đó thu hút đầu tư nhằm tạo ra tác độngtích cực tới tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách nhà nước và tạo việc làm;

-Thúc đẩy cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, hoàn thiệnmôi trường kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tếtrong dài hạn;

-Thúc đẩy việc phân bổ và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực để nâng cao năng lực cạnh tranh của sảnphẩm và doanh nghiệp Việt Nam tạithị trường trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, hội nhậpkinh tế quốc tế cũng tạo ra sự đan xen về lợi ích giữa Việt Nam và các nước, các đối tác, từ đó có tác độngtích cực về an ninh quốc phòng, xã hội, văn hóa, giáo dục, môi trường, chínhtrị và hoàn thiện thể chế;

- Tạo điều kiện thuận lợi để tăng nhanh xuất khẩu, gắnxuất khẩu với nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và công nghệ cho pháttriển sản xuất trong nước.

Tuy nhiên, hộinhập kinh tế quốc tế cũng đặtra những thách thức cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp ViệtNam nói riêng, đó là:

Trước hết, là vấnđề cạnh tranh. Hội nhập tạo ra sức ép về mở cửa thị trường, cạnh tranh mạnh đốivới các doanh nghiệp Việt Nam. Nếu không có sự chuẩn bị tốt, nhiều ngành sảnxuất và dịch vụ có thể sẽ gặp khó khăn. Tự do hóa thương mại quá đột ngột cóthể dẫn tới phá sản và tình trạng thất nghiệp ở các doanh nghiệp có năng lựccạnh tranh yếu. Tuy nhiên, do nhập khẩu từ các đối tác như Hoa Kỳ trong Hiệpđịnh TPP, EU trong Hiệp định EVFTA là các đối tác chưa có FTA với Việt Nam, haymột số nước/khu vực khác không lớn nên với lộ trình giảm thuế hợp lý, kết hợpvới hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, Việt Nam có thể xử lý được các hệ quảphát sinh do tham gia các FTA này.

Thứ hai, để tậndụng ưu đãi trong các FTA, doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng những yêu cầu,tiêu chuẩn cao về chất lượng hàng hóa, chịu sức ép phải tuân thủ các điều khoảnquy định về vệ sinh, môi trường, lao động và quy trình công nghệ… Đây vừa là cơhội để tự nâng cao năng lực, vừa là thách thức đối với doanh nghiệp của ViệtNam vì đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thiếu công nghệ, vốn và kinh nghiệmsản xuất.

Thứ ba, các FTA đặtra thách thức về điều chỉnh hệ thống pháp luật, chính sách. Để thực thi đầy đủcác cam kết, Việt Nam có thể sẽ phải điều chỉnh, sửa đổi nhiều quy định phápluật về thương mại, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ … Tuy nhiên, như kinh nghiệmgia nhập WTO đã chỉ ra, với sự chuẩn bị nghiêm túc và nỗ lực cao độ, Việt Namcó thể thực hiện thành công khối lượng công việc này.

Bước vào thực hiện kế hoạch năm 2015, cùng với việc chuẩn bị hình thành Cộng đồng ASEAN vào cuối năm 2015và ký kết các Hiệp địnhthương mại tự do với Liên minh châu Âu, Hàn Quốc và Liên minh Hải quan Nga- Belarus-Kazakhstan và với các đối tác lớn khác, một mặt sẽ mở ra cho nước tanói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng những thuận lợi và cơ hội pháttriển mới, nhưng mặt khác cũng đặt ra nhiều thách thức, khó khăn. Đối với doanh nghiệp Việt Nam,để hỗ trợ các doanh nghiệp tận dụng tốt cơ hội từ quá trình hội nhập, Bộ Công Thương sẽ thực hiện một số nội dung như sau:

-Tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến để các doanh nghiệp tận dụng tối đacác điều kiện thuận lợi về tiếp cận thị trường và cắt giảm thuế quan để đẩymạnh xuất khẩu và nâng cao hiệu quả xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang các thị trường; 

- Tăng cường côngtác dự báo, bám sát tình hình thị trường, nâng cao hiệu quả công tác thông tin,kịp thời thông báo, tuyên truyền nâng cao nhận thức của các nhà sản xuất, xuấtkhẩu về các loại rào cản của các thị trường này nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, cải thiện chất lượnghàng hoá tránh rủi ro cho doanh nghiệp khi thực hiện các hợp đồng xuất khẩu;

- Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chínhsách trong nước phù hợp với những định hướng lớn của Đảng và nhà nước trong vấnđề phát triển thương mại, phù hợp với luật pháp quốc tế và những khung khổ hợptác đa phương và khu vực nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế;

- Tăngcường sự hợp tác và phối hợp hành động với những cơ quan đồng cấp trong đảm bảoviệc triển khai các cam kết được thỏa thuận tại các Hiệp định Thương mại tự docũng như các cơ chế hợp tác song phương khác nhằm tạo môi trường thương mạithuận lợi, giảm thiểu rào cản thương mại và rủi ro trong quá trình làm ăn vớidoanh.

Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng rất tích cực phối hợp với BộTài chính và các Bộ, ngành liên quan thúc đẩy một việc triển khai cơ chế mộtcửa quốc gia trong khuôn khổ cơ chế một cửa ASEAN. Cơ chế này sẽ tạo điều kiệnthuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu trong việc dịch chuyển hàng hóa tại cửakhẩu biên giới, tiết kiệm được hàng triệu USD cho doanh nghiệp thông qua giảmthời gian làm thủ tục hải quan bởi tính đơn giản, hài hòa và tự động hóa; đồngthời doanh nghiệp thương mại và vận tải quốc tế sẽ có điều kiện áp dụng phươngthức quản lý mới, tiết kiệm chi phí cũng như giảm thời gian thực hiện thủ tụchành chính, có cơ hội cạnh tranh cao. Bộ Công Thương cũng đã thống nhất đưa 5thủ tục của Bộ tham gia thí điểm cơ chế này và dự kiến từ cuối năm 2015 sẽ kếtnối nhiều thủ tục hơn. Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng đã phối hợp với các Bộ,ngành liên quan rà soát, đánh giá toàn diện các vấn đề về quy trình thủ tục, kỹthuật triển khai… Hy vọng trong thời gian tới, hệ thống này sẽ ngày càng hoànchỉnh nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp trong quá trình xuất nhập khẩuhàng hóa.

Cùngvới sự hình thành của AEC, năm 2015 sẽ là mốc thời gian quan trọng đối với ViệtNam khi phải hoàn thành nhiều lộtrình cam kết. Vềthương mại hàng hóa, Việt Nam sẽphải hoàn thành việc đưa thuế nhập khẩu về 0% đối với gần 93% biểu thuế và chỉcòn được duy trì mức thuế 0%-5% đối với 7% biểu thuế đến năm 2018. Về thươngmại dịch vụ và đầu tư, Việt Nam cùngvới các nước ASEAN khác sẽ phải hoàn thành lộ trình tự do hóa thương mại trongkhuôn khổ Hiệp định khung về dịch vụ (AFAS) theo 10 Gói cam kết dịch vụ chínhvà các Gói cam kết về dịch vụ tài chính, vận tải hàng không và tự do hóa đầu tưtheo Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA). Trong những năm qua, Việt Namđã tham gia xây dựng AEC với tinh thần chủ động, tích cực và có trách nhiệm.Cùng với ASEAN, Việt Nam quyết tâmvà dành nỗ lực cao nhất để triển khai các cam kết, chương trình, sáng kiến đềra. Trong thời gian qua, dù trình độ phát triểnchưa bằng một số nước trong khu vực nhưng Việt Namlà một trong số các thành viên ASEAN có tỷ lệ hoàn thành tốt các cam kết trongLộ trình tổng thể thực hiện AEC. Hiện nay, ASEAN đã thực hiện được 78,1% tổngsố các biện pháp xây dựng AEC. Việt Namlà một trong 3 nước đạt tỷ lệ thực hiện cao nhất, đạt 84,5%. Về các biện phápưu tiên thực hiện AEC đến năm 2013, ASEAN đạt mức thực hiện bình quân 82,1% vàViệt Nam là một trong 2 nước đạt tỷlệ cao nhất, đạt khoảng 90% (chỉ sau Xinh-ga-po).

Nhằm chuẩn bị cho giaiđoạn sau năm 2015, Việt Nam đangcùng các nước ASEAN khác thảo luận, xây dựng Khuôn khổ ASEAN về AEC và khả năngxây dựng một AEC Blueprint mới cho 10 năm tới (2015-2025) để xác định các biệnpháp, lộ trình củng cố hội nhập AEC. Tuy nhiên, để các nỗ lực hội nhập đem lại lợi ích thực sự thì vai trò củacác doanh nghiệp là yếu tố quyết định. Các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động tìm hiểu, đổi mới phương thức kinhdoanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để tận dụng tối đa các cơ hội về thịtrường, vốn, công nghệ mà AEC mang lại. Nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp tận dụngtốt các cam kết, trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục chú trọngtriển khai công tác phổ biến, tuyên truyền về AEC cũng như phối hợp với cácdoanh nghiệp xử lý các vướng mắc, khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiệnđể đảm bảo lợi ích cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam./.
  Các bài viết mới
▪  Vinh danh thương hiệu Việt Nam  (17/01/2018)
▪  Đầu tư từ các nước thành viên ASEAN vào Việt Nam giữ nhịp tăng trưởng ổn định và đều đặn.  (13/11/2017)
▪  Triển vọng tăng trưởng đầu tư FDI từ Hoa Kỳ  (01/11/2017)
▪  Sự trở lại của nhà đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam  (24/10/2017)
▪  Tọa đàm với các doanh nghiệp tỉnh Aichi Nhật Bản khu vực phía Nam lần thứ 32  (23/10/2017)
▪  NSN CONSTRUCTION & ENGINEERING JOINT STOCK COMPANY  (18/04/2017)
▪  Hội nghị Xúc tiến Đầu tư vào tỉnh Ninh Thuận năm 2016  (01/09/2016)
▪  Hội nghị Giao ban đầu tư khu vực phía Nam năm 2015  (10/11/2015)
▪  Kết nối DN Việt và DN vùng Osaka Nhật Bản  (08/10/2015)
▪  Mẫu phiếu điều tra  (03/11/2014)
 
 
Mạng lưới Xúc tiến đầu tư