Trang này tất cả
search  
8/1/2008 9: 21: 15 AM
  Trang chủ | Site map | Liên hệ
Thông tin thời tiết
Tỷ giá
Thị trường chứng khoán
Mã CK TC Khớp lệnh +/-
Giá KL
 
 
:: Đồng hành cùng Nhà đầu tư » Chi tiết
Kinh tế thế giới và Việt Nam 2018

Sau gần 10 năm khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng với nhữnggập ghềnh trồi sụt, sự phục hồi kinh tế thế giới năm 2017 mới trở nên rõ hơn,với tốc độ tăng trưởng đạt 3,6% so với 3,2% năm 2016 (IMF, tháng 10/2017). Dấuhiệu tích cực trong tăng trưởng thể hiện cả ở các nền kinh tế phát triển (Mỹ,khu vực đồng Eurro, Nhật Bản) và tại các nền kinh tế đang phát triển và mớinổi. Đặc biệt sau 2 năm có tốc độ tăng thấp hơn tăng trưởng GDP, năm 2017thương mại toàn cầu đã có mức tăng trưởng cao hơn, đạt 4,2%. Giá cả hàng hóa cơbản (commodity) tăng đáng kể trở lại cùng với niềm tin thị trường vào đà đi lêncủa kinh tế thế giới.

Song có mộtthức tế là thế giới hiện vẫn đối mặt với không ít bất định, rủi ro. Khu vực đồngEuro không tiếp tục duy trì các gói kích thích kinh tế và tăng trưởng có thể sẽchựng lại. Nợ Trung Quốc vào loại cao nhất trên thế giới, lên đến 240-300% GDP(theo đánh giá khác nhau), cùng với tỷ trọng lớn của khu vực “ngân hàng ngầm”.Cách tiếp cận khác nhau đối với toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại vẫn va đậpmạnh; các vấn đề xã hội và bất bình đẳng phúc lợi gia tăng khuyến khích chủnghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân túy ở nhiều nước phát triển. Căng thẳng địa-chínhtrị và nguy cơ xung đột vẫn tồn tại tại một số khu vực.

Dự báo kinh tếthế giới 2018, chính vì vậy, thận trọng hơn. Xu hướng tích cực vẫn ít nhiều chiphối, song bước tiến không còn như năm 2017 so với năm 2016. Theo IMF, tăng trưởngkinh tế thế giới năm 2018 đạt 3,7%, tăng trưởng tại các nền kinh tế phát triểnchậm lại, 2,0% so với 2,2% năm 2017. Thương mại toàn cầu cũng vì thế có mứctăng thấp hơn năm 2017, chỉ là 4,0%, dù vẫn cao hơn tốc đọ tăng trưởng GDP.

Cùng với đó, các xuhướng lớn trong 2 thập niên tới, như Báo cáo Việt Nam 2035 đã chỉ ra, đang vàsẽ đem lại những cơ hội vô cùng to lơn và cả thách thức đối với sự phát triển.Đó là những thay đổi về cấu trúc dân số, dịch chuyển lao động và sự nổi lê của tấng lớp trung lưu. Đólà những đột phá về công nghệ (thông tin, trí tuệ nhân tạo, blockchain, nănglượng, sinh học, vật liệu mới,…) và con tàu “cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.Đó là mức độ liên kết kinh tế toàn cầu sâu rộng và sự ra đời, thực thi cácmega-FTAs. Và đó là sự nổi lên của châu Á như một khu vực năng động nhất cùngvai trò ngày càng lớn của Trung Quốc, Ấn Độ.

Kinh tếthế giới thực sự đang trong “thời kỳ chuyển đổi” phát triển có tính cách mạng.Thách thức đối với thế giới những năm tới là làm sao có thể vừaduy trỉ đà phục hồi, vừa cải cách cơ cấu, lại vừa giảm thiểu rủi ro cũng nhưphí tổn của quá trình điều chỉnh. Đây là giai đoạn “quá độ” rất khó khăn. Phí tổnđiều chỉnh ngắn hạn có thể cao, trong khi áp lực chu kỳ chính trị muốn thấyngay lợi ích, có thể làm trì trệ cải cách cơ cấu đón bắt các xu hướng phát triểnmới.

Vật lộn với thách thức trước mắt, song thếgiới cần hơn là một tư duy mới về phát triển và một công cuộc cải tổ kinh tếsâu rộng, căn bản. Chúng ta càng nhận ra rằng phải thực sự thayđổi cách thức phát triển. Về cơ bản, mô hình tăng trưởng truyền thống đã khôngcòn thật phù hợp với đòi hỏi của thời đại. Gắn với mô hình tăng trưởng mới,cùng với việc nâng cao năng suất, phải là một cách hiểu mới, cách suy nghĩ mới:Thế nào là thực sự vì chất lượng cuộc sống của con người. Nó phải vượt qua khỏicái thuần túy chỉ là thu nhập đầu người, là sự gia tăng của cải, dù quan trọng,mà cần gắn với cả bộ ba: tâm thức (trí tuệ và tính hợp lý trong ứng xử ); “xanhhơn” (nền kinh tế bớt “nâu” hơn, bớt tận khai tài nguyên thiên thiên); và “thựchơn” (bớt “bong bóng” tài chính hơn).

          Việt Nam không nằm ngoài những vấn đề của thế giới, cả trong ngắnhạn và trong dài hạn, nhất là khi đã và đang chuyển sang thể chế kinh tế thịtrường và hội nhập ngày càng sâu rộng. Là một nền kinh tế với mức độ mở cửacao, cũng giống như nhiều nền kinh tế Đông Á, Việt Nam chịu tác động đáng kể,cả tích cực và tiêu cực, trước những biến động giá cả, thương mại, đầu tư, tàichính,…trên thế giới.

          Do cải cách thể chế chưa tương xứngvới yêu cầu hội nhập cùng những sai lầm chính sách quá thiên về tăng trưởng màxem nhẹ ổn định kinh tế vĩ mô, nền kinh tế Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO (2007-2011) đã bộc lộ2 khiếm khuyết nghiêm trọng. Một là cả tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăngtrưởng giảm trong khi đầu tư, tin dụng gia tăng (tăng trưởng trung bình 5 nămcòn 6,5% so với 7,5% 5 năm trước đó). Hai là khả năng chống đỡcủa nền kinh tế trước những cú sốc bên trong và bên ngoài thấp do các nền tảng kinh tế vĩmô suy yếu: chênh lệch đầu tư - tiết kiệm quá lớn (trên 40% so với khoảng 30%GDP), thâm hụt ngân sách nặng nề (trên 5%GDP), thâm hụt thương mại và cán cânvãng lai lớn (có khi tới 9-10% GDP), lạm phát cao và biến động mạnh, rủi ro tàichính-ngân hàng gia tăng.

Từ năm2011-2012, Việt Nam đã có sự chuyển hướng chính sách mạnh mẽ, nhất quán tậptrung vào ổn định kinh tế vĩ mô cùng đảm bảo an sinh xã hội và nỗ lực phục hồităng trưởng. Việt Nam cũng bắt tay triền khai chương trình tái cấu trúc nềnkinh tế, đặt trọng tâm vào những lĩnh vực đang cản trở phân bổ hiệu quả nguồn lựcvà gây bất ổn vĩ mô, đó là đầu tư công, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN),và hệ thống tài chính – ngân hàng.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã, đang, và sẽ thực hiện nhiều cam kết quốc tế trongkhung khổ WTO, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), các hiệp định thương mại tự doASEAN + 1FTAs, cùng nhiều FTAs song phương khác . Hy vọng trong thời gian tới,Hiệp định Thương mại tự do song phương Việt Nam – EU (VN-EU FTA), Hiệp định Đốitác xuyên Thái Bình Dương toàn diện và tiến bộ (CPTPP), Hiệp định Đối tác kinhtế khu vực ASEAN + 6 (RCEP) sẽ trở thành hiện thực, và đây sẽ là chất xúc tác mạnhđối với cải cách thể chế và phát triển kinh tế của Việt Nam.

Từ năm2012, kinh tế vĩ mô Việt Nam đã có chuyển biến tích cực. Lạm phát giảm mạnh từgần 20% năm 2011 xuống dưới 5% ba năm lại đây (3,5% năm 2017); tỷ giá VNĐ/USDtương đối ổn định, dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt mức kỷ lục gần 52 tỷ USD vàocuối năm 2017.

Nềnkinh tế dần lấy lại đà tăng trưởng trên mức 6% (năm 2017 là 6,8%), dẫn dặt bởicông nghiệp chế biến, xuất khẩu và khu vực dịch vụ. Năm 2017, kim ngạch xuất khẩuhàng hóa đạt hơn 210 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2016; khách du lịch quốc tế đếnViệt Nam tăng vào loại cao nhất ở châu Á; FDI giải ngân cao nhất từ trước đếnnay, 17,5 tỷ USD; số doanh nghiệp đăng ký mới lên tới 127000. Niềm tin vào nềnkinh tế Việt Nam với qui mô thị trường ngày càng lớn và là điểm kết nối hấp dẫnvới kinh tế khu vực và thế giới được củng cố, tăng cường. nhiều cơ hội đàu tưkinh doanh. Nó cũng là kết quả của những nỗ lực, sự quyết liệt trong cải thiệnmôi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam những năm lại đây. Năm 2017, theo xếphạng của Ngân hàng Thế giới, chỉ số kinh doanh của Việt Nam tăng 14 bậc.

Song ổn định kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Tâm lý hoàinghi vẫn khá dai dẳng. Thâm hụt ngân sách vẫn cao (tính như trước đây vẫn khoảngtrên dưới 6%). Những vấn đề nội tại của hệ thống tài chính ngân hàng, như nợ xấu,sự yếu kém của một số ngân hàng,.. vẫn là nguy cơ gây bất ổn tài chính và kinhtế vĩ mô. Dù có cải thiện theo hướng tăng năng suất, mô hình tăng trưởng dựavào tăng vốn và lợi thế so sánh tĩnh (chi phí lao động tương đối thấp,..) chậmthay đổi. Tăng trưởng dựa ngày càng lớn vào khu vực FDI, trong khi mối liên kếtvới doanh nghiệp trong nước yếu và mức độ lan tỏa về công nghệ, kỹ năng từ FDIcòn hạn chế. Hơn nữa, quá trình tái cấu trúc nèn kinh tế đã đẩy mạnh hơn, nhấtlà đối với một số ngân hàng, tập đoàn, tổng công ty nhà nước, song vẫn chưa đượcnhư mong đợi.

Kết quả pháttriển năm 2017 là tiền đề tốt cho năm 2018. Gần 50% doanh nghiệp trong một điềutra cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sang năm 2018 sẽ thuận lợi hơn.Chương trình cải tổ khu vực doanh nghiệp nhà nước đã rõ và sẽ được đẩy mạnhtrên thực tế. Nghị quyết xử lý nợ xấu được Quốc hội thông qua tháng 7/2017 sẽlà cú hích đẩy nhanh xử lý nợ xấu. Đặc biệt, với tinh thần một Chính phủ “kiếntạo, liêm chính, hành động”, bộ may hành chính và môi trường đàu tư kinh doanhsẽ tiếp tục là trọng tâm của công cuộc cải cách.

Dù vậy, với độmở cao với kinh tế khu vực và thế giới và việc cân đối giữa mục tiêu ổn định,phát triển bền vững và cải cách, Việt Nam đặt ra một cách khá thận trọng mụctiêu cho năm 2018 là tăng trưởng GDP 6,5-6,7%, lạm phát khoảng 4% (và xuất khẩutăng trên dưới 10%). Theo nhiều dự báo và nhìn nhận của các tổ chức nghiên cứutrong và ngoài nước, đây là mục tiêu khá thận trọng, nhưng cũng tương đối hợplý và có tính khả thi. Năm 2018, Việt Nam rất cần hài hoà câu chuyện tăng trưởngtrong ngắn hạn và tăng cường nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô cũng như cải cáchthể chế. Cùng với đó là việc cân bằng trong xử lý các vấn đề xã hội và phát triểnkinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế hoạt động tốt hơn nữa. Đây không chỉ làcách giúp tăng trưởng có chất lượng hơn, phát triển bao trùm hơn, mà còn tạo khảnăng kháng cự tốt hơn với các cú sốc có thể có đối với nền kinh tế.

          Nhìntổng thể, những năm tới đây thực sự là thời khắc hệ trọng đối với tiến trình cảicách, phát triển của Việt Nam. Thách thức là vô cùng to lớn trong khi nguồn lựccòn hạn chế. Đòi hỏi xã hội lại rất cao. Quyết tâm và ý chí chính trị là chưa đủ.Để tạo dựng và tăng cườngi lòng tin xã hội và thị trường, Việt Nam cần kiên trì, nhấtquán với chính sách tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách thế chế và tái cấutrúc nền kinh tế một cách thực chất để đón bắt tốt hơn xu thế phát triển mới củathế giới và thời đại. Cùng với đó, trong một xã hội ngày càng đòi hỏi và đa dạng, thì cách thức tương tác, giao diện giữa nhà nước với ngườidân, giữa nhà hoạch định chính sách với thị trường càng cần phải đàng hoànghơn, minh bạch hơn và có khả năng giải trình cao hơn./.

 

  Các bài viết mới
▪  Tác động của FDI đến nguồn nhân lực và việc làm của lao động Việt Nam  (06/12/2018)
▪  Kinh tế tư nhân – động lực để phát triển  (06/12/2018)
▪  Hiệp định thương mại tự do song phương Việt – Hàn, cơ hội và thách thức  (06/12/2018)
▪  Một số định hướng giải pháp lớn nhằm tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta  (06/12/2018)
▪  Xu hướng đầu tư ra nước ngoài của một số nước Châu Á tại Việt Nam  (06/12/2018)
▪  30 năm thu hút FDI: Dấu ấn chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam.  (17/09/2018)
▪  Công nghệ số ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội của Việt Nam  (13/09/2018)
▪  Hội nghị " Hải Phòng - Sự lựa chọn tối ưu của Nhà đầu tư Hàn Quốc" tổ chức ngày 20/9/2018 tại khách sạn Rex  (23/08/2018)
▪  Cần Thơ đồng hành cùng nhà đầu tư  (10/08/2018)
▪  30 năm thu hút FDI: Suy ngẫm và hướng về phía trước  (02/08/2018)
 
 
Mạng lưới Xúc tiến đầu tư