Trang này tất cả
search  
8/1/2008 9: 21: 15 AM
  Trang chủ | Site map | Liên hệ
Thông tin thời tiết
Tỷ giá
Thị trường chứng khoán
Mã CK TC Khớp lệnh +/-
Giá KL
 
 
:: Đồng hành cùng Nhà đầu tư » Chi tiết
Kinh tế tư nhân – động lực để phát triển

Hội nghị 5 Ban chấp hành Trung ương Đảnglần thứ 12 đã banhành một Nghị quyết riêng về kinh tế tư nhân, nhấn mạnh vai trò ngày càng to lớntrong đóng góp của khu vực nàyđối với tăng trưởng và phát triển đất nước. Nghịquyết khẳng định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng của nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Sau 30 năm Đổi mới (khởi xướng năm 1986), một trong nhữngthành tựu nổi bật nhất của cải cách kinh tế ở Việt Nam là sự nổi lên của một khuvực tư nhân năng động. Tuy nhiên, đây không phải là một quá trình trơn tru. Sựphức tạp và “gồ ghề” của nó được phản ánh qua cách sử dụng các thuật ngữ, từ điềugọi là “nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần”, đến “cơ chế thị trườngcó sự quản lý của nhà nước”, rồi chuyển sang “nền kinh tế thị trường định hướngxã hội chủ nghĩa”.

Trước Đổi mới, Việt Nam thực chất là một nền kinh tế kếhoạch hóa tập trung, Nhà nước quản lý cả đầu vào vật tư nguyên liệu và đầu ratrong sản xuất và chỉ thừa nhận quyền sở hữu nhà nước và tập thể đối với các côngcụ sản xuất chủ yếu. Về cơ bản, quyền tự chủ kinh doanh còn vắng bóng.

Đối với khu vực tư nhân, năm 1986 chính là mốc khởi đầu củaquá trình thay đổi tư duy không thể đảo ngược; theo đó Việt Nam đi vào tạo dựngmô hình kinh tế thị trường hỗn hợp với cấu trúc sở hữu đa dạng. Vào cuối nhữngnăm 1980 và đầu 1990, Việt Nam đã thực hiện một gói cải cách toàn diện và cấptiến nhằm ổn định, mở cửa nền kinh tế và tăng cường cạnh tranh cùng quyền tự dolựa chọn cho các đơn vị kinh tế. Lần đầu tiên, Chính phủ đã thể hiện trên thựctế sự hỗ trợ cho khu vực tư nhân trong nước phát triển.

Năm 2000 là bước ngoặt quan trọng tiếp theo trong pháttriển khu vực tư nhân. Luật Doanh nghiệp được thông qua làm giảm đáng kể gánh nặngquản lý đối với việc đăng ký kinh doanh, góp phần tạo ra sự gia tăng nhanhchóng số lượng doanh nghiệp tư nhân.Kể từ đó, khu vực tư nhân đã phát triển mạnh,đóng góp tới 39-40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Đáng chú ý là khu vực tư nhâncũng chính là nguồn tạo việc làm chủ yếu, hấp thụ khoảng 85% trong số 1,3-1,4triệu ngườigia nhập thị trường lao động mỗi năm.

Hiện tại chúng ta có thể nhìn thấy hình ảnh của một khu vựctư nhân năng động và nổi bật với một số lượng lớn ba, bốn thế hệ doanh nhân biếttiến bước để thành công. Cùng với đó là một phong trào khởi nghiệp mạnh mẽ. Năm2016 và 2017, đất nước đã chứng kiến một số lượng doanh nghiệp mới thành lập đạtkỷ lục, tương ứng là 110.000 và 127.000, đưa tổng số doanh nghiệp tư nhân lên gần700.000.Số doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tăng gần gấpđôi trong hai năm, từ 1.800 năm 2016 lên hơn 3.000 năm 2017. Khoảng 40 Quỹ đầutư mạo hiểm quốc tế đã hoạt động tại ViệtNam; nhiều định chế tài chính, các tập đoàn và các nhà đầu tư đang tích cựctham gia huy động, sử dụng nguồn lực tài chính lớn cho khởi nghiệp đổi mới sángtạo.

Động lực chính cho phát triển của kinh tế tư nhân chính làsự khẳng định của Nhà nước về vai trò to lớn của khu vực này, là việc thừa nhậnquyền sở hữu tư nhân và quyền tự do kinh doanh, cùng các chính sách hỗ trợkhác. Nghị quyết mới xem kinh tế tư nhân như một điều kiện tiên quyết cho sựphát triển đất nước đã tái khẳng định cam kết của Việt Namlà tạo xung lực vữngchắc cho khu vực tư nhân lớn mạnh một cách bền vững.

Lượng nhiều, chất yếu

Việt Nam hiện có gần 700.000 doanh nghiệp tư nhân, nhưngđa số các doanh nghiệp đăng ký đều có quy mô nhỏ,tới 70% có qui mô dưới 10 laođộng và vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng.Số lượng doanh nghiệp lớn đang tăng lên,nhưng vẫn chưa thể hiện được vai trò dẫn đầu trong đổi mới sáng tạo và tăng trưởng.

Một lo ngại nữa trong khu vực tư nhân là xu hướng qui mô giảmdần, cản trở tăng năng suất nhờ lợi thế qui mô, chuyên môn hóa và sáng tạo côngnghệ. Nhiều hộ kinh doanh từ chối đăng ký làm doanh nghiệp chính thức, do sợ phảiđối phó với nhiều vấn đề liên quan đến tệ quan liêu và cách thức quản lý, làmtăng chi phí giao dịch.

Các công ty tư nhân có vị trí nổi bật trong hàng loạt cụmliên kết ngành (industrial clusters), như dệt may, giày dép và một số mặt hàngkhác. Nhưng lưu ý là cấu trúc tổng thể của khu vực tư nhân vẫn mất cân đối, vớihơn 80% doanh nghiệp tập trung vào các lĩnh vực thương mại và dịch vụ năng suấtthấp và có giá trị gia tăng thấp. Số lượng các doanh nghiệp tư nhân hoạt độngtrong lĩnh vực sản xuất và chế biến không nhiều.

Thực tế cũng cho thấy các doanh nghiệp tư nhân đang gặpnhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh, với tỷ lệ thua lỗ và phá sản ở mức cao,trung bình là 45% trong giai đoạn 2007- 2016.

Báo cáo Việt Nam 2035 chỉ ra rằng năng suất và sức cạnhtranh của khu vực tư nhân Việt Nam có xu hướng giảm. Các doanh nghiệp Việt Nam đãtham gia vào mạng sản xuất toàn cầu/khu vực song có vị thế yếu trong các chuỗigiá trị toàn cầu /khu vực.

Tất cả những điều đó chứng tỏ còn có rất nhiều trở ngại đểkhuvực tư nhân Việt Nam phát triển và trở thành khu vực dẫn đầu.

Những trở ngại

Có nhiều yếu tố đằng sau sự phát triển còn xa kỳ vọng củakhu vực tư nhân. Như Báo cáo Việt Nam 2035đã chỉ ra, đó là những yếu kém trongđảm bảo quyền tài sản, “sân chơi” không công bằng, sự méo mó của các thị trườngnhân tố sản xuất cũng như việc khó tiếp cận chúng, và chi phí giao dịch cao.

Về mặt pháp lý, điểm yếu lớn nhất có lẽ là khung khổ đảmbảo quyền sở hữu tư nhân và cạnh tranh tự do và công bằng. Yếu kém trong thựcthi pháp luật về quyền sử dụng đất và quyền sở hữu trí tuệ đã kìm hãm sự nảysinh các công ty tư nhân lớn và có tính cạnh tranh cao.

Thực tế là các doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm ưu thếtrong nhiều ngành và nhận được nhiều ưu đãi thông qua mối quan hệ thân hữu với quanchức nhà nước. Điều này cũng đang làm giảm cơ hội kinh doanh của các công ty tưnhân lành mạnh.

Sự không công bằng về môi trường kinh doanh cũng thể hiệnqua khả năng tiếp cận vốn, đất đai, thông tin, cơ sở hạ tầng và lao động củakhu vực tư nhân. Chi phí giao dịch được cho là còn rất cao, xuất phát cả từ sựquan liêu cũng như nạn tham nhũng. Trong khi đó, cơ quan cạnh tranh không làm tốtđược công việc của mình do quyền lực yếu và tính độc lập thấp.

Vấn đề còn nằm ở chính sự yếu kém của các công ty tư nhânvề phát luật và thị trường, tầm nhìn phát triển và mạng lưới hợp tác, đó làchưa nói tới cách thức quản trị và văn hóa doanh nghiệp.

Và con đường thích hợp

Cácnhà kinh tế học và các doanh nhân đã thảo luận và đề xuất nhiều sáng kiến, biệnpháp cho Chính phủ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển bền vững đicùng vớiviệc cổ phần hóa và cải cách doanh nghiệp nhà nước một cách thưc chất. Nó khẳngđịnh Việt Nam “chơi thật”, ở những lĩnh vực thị trường,tư nhân làm tốt và tốt hơn thì để tư nhân làm. Quan trọng nhất là hiệu qủatrong phân bổ và sử dụng nguồn lực. Nó còn giúp tạo thêm niềm tin cho thị trườngvào câu chuyện cải cách ở Việt Nam. Và đây là một quá trình dài cần cáchtiếp cận nhất quán cả từ nỗ lực khu vực tư nhân và sự hỗ trợ của Chính phủ.

Trước hết, phải có những chuyển biến cải cách mạnh mẽ vềthể chế để tiếp tục giải quyết tệ nạn quan liêu trong ứng xử vói kinh doanh, đồngthời đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, nhất là trong tiếp cận đất đai, vốn, thôngtin và các yếu tố sản xuất khác cho doanh nghiệp tư nhân.

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu vào thị trường toàncầu, việc thiết lập các cụm liên kết ngành mạnh để doanh nghiệp tư nhân có vịtrí kinh doanh thuận lợi sẽ giúp tăng năng suất, thúc đẩy xuất khẩu và khuyếnkhích đổi mới sáng tạo (Hộp 1).

Hộp 1: Cụm liên kết ngành

Hình thành các cụm liên kết ngành (CLKN-industrial clusters) là một hướng đi chính sách cần đặc biệt quan tâm. Nhiều nghiên cứu về CLKN cho thấy các nhân tố tạo ra sự phát triển CLKN bao gồm : môi trường thể chế chuyên nghiệp và thân thiện, thu dụng được nhân tài và một lực lượng lao động có kỹ năng ; hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ ; sự có mặt của các doanh nghiệp tiên phong, trong đó có vai trò của FDI; và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh thuận lợi. Đồng thời, cần thận trọng với can thiệp nhà nước. CLKN nảy sinh một cách “tự nhiên” và phát triển dưới tác động của thị trường. Chính vì vậy, can thiệp chính sách thường có ích nhất trong giai đoạn đầu của chu kỳ phát triển CLKN. Khéo léo cân bằng giữa chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tiên phong, tập đoàn đa quốc gia và cam kết chuyển giao công nghệ , đào tạo, R&D cũng là một nội dung quan trọng.

 

Để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, Việt Nam đã có không ítchính sách và Chính phủ đã thành lập các quỹ hỗ trợ nghiên cứu và phát triển(R&D), song hiệu quả và tác động lan tỏa về công nghệcòn hạn chế. Tại HànQuốc và Nhật Bản, các doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vị trí hàng đầu trong hoạt độngR&D. Chính phủ có thể có các biện pháp hỗ trợ tài chính trực tiếp và giántiếp, bao gồm giảm thuế cho các công ty công nghệ cao và cung cấp vốn cho cácdoanh nghiệp có trải nghiệm tốt được chứng thực.

Điểm không thể không nói tới là việc bắt kịp thời đạiCông nghiệp 4.0. Trước hết cần tạo dựng một khung khổ pháp lý thích hợpcùng với sự quyết liệt thực thi, đặc biệt liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ,chính sách cạnh tranh và việc thu hút FDI công nghệ. Thiết lập hệ thống sáng tạoquốc gia lấy doanh nghiệp và thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo làm trung tâm chínhlà đòn bày cho công cuộc này.

ASEAN có chiến lược cải thiện môi trường kinh doanh đểcác doanh nghiệp nhỏ và vừa trở nên cạnh tranh, sáng tạo và năng động hơn. Chiếnlược đó dựa trên tám khía cạnh chính sách, đo lường theo Chỉ số Chính sách SME(1. Khung khổ thể chế; 2. Tiếp cận dịch vụ hỗ trợ; 3.Những điều tiết thuận lợicho khởi nghiệp và SMEs); 4. Tiếp cận tài chính; 5. Công nghệ và chuyển giao côngnghệ; 6. Mở rộng thị trường quốc tế; 7. Thúc đẩygiáo dục kinh doanh; 8. Hiệu lựcđại diện lợi ích SMEs). Việt Nam có vị trí trung bình về Chỉ số Chính sách SMEso với các nước thành viên ASEAN. Điều đó có nghĩa rằng Việt Nam còn rất nhiều dưđịa để hoàn thiện không gian và môi trường cho khu vực tư nhân phát triển.

+

+       +

Khu vực kinh tế tư nhân chính là Chúng Ta, và vì vậy cầnphải có trách nhiệm đặc biệt. Đây thực sự là điều cực kỳ quan trọng đối với kinhtế Việt Nam. Có một khu vực tư nhân năng động và cạnh tranh là một bảo đảm vữngchắc cho sự phát triển và thịnh vượng của Việt Nam. Thành công phụ thuộc vào côngcuộc hiện thực hóa thể chế đúng đắn và các chính sách hỗ trợ thích hợp.

  Các bài viết mới
▪  Hiệp định thương mại tự do song phương Việt – Hàn, cơ hội và thách thức  (06/12/2018)
▪  Một số định hướng giải pháp lớn nhằm tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta  (06/12/2018)
▪  Xu hướng đầu tư ra nước ngoài của một số nước Châu Á tại Việt Nam  (06/12/2018)
▪  30 năm thu hút FDI: Dấu ấn chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam.  (17/09/2018)
▪  Công nghệ số ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội của Việt Nam  (13/09/2018)
▪  Hội nghị " Hải Phòng - Sự lựa chọn tối ưu của Nhà đầu tư Hàn Quốc" tổ chức ngày 20/9/2018 tại khách sạn Rex  (23/08/2018)
▪  Cần Thơ đồng hành cùng nhà đầu tư  (10/08/2018)
▪  30 năm thu hút FDI: Suy ngẫm và hướng về phía trước  (02/08/2018)
▪  FDI với chuyển giao công nghệ  (02/08/2018)
▪  Doanh nghiệp tư nhân: Khó lớn vì đói vốn  (05/06/2018)
 
 
Mạng lưới Xúc tiến đầu tư