Trang này tất cả
search  
8/1/2008 9: 21: 15 AM
  Trang chủ | Site map | Liên hệ
Thông tin thời tiết
Tỷ giá
Thị trường chứng khoán
Mã CK TC Khớp lệnh +/-
Giá KL
 
 
:: Đồng hành cùng Nhà đầu tư » Chi tiết
Một số định hướng giải pháp lớn nhằm tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta

Sau hơn 30 nămđổi mới, nhận thức của chúng ta về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đã cónhững bước tiến quan trọng. Từ chỗ kỳ thị, coi nhẹ đã thừa nhận kinh tế tư nhân"là một trong những động lực" và đến nay "là một động lực quan trọng"để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trênthực tế, kinh tế tư nhân đã ngày càng phát triển; tỉ trọng trong GDP chiếm 39 -40%; thu hút khoảng 85% tổng số lao động trong nền kinh tế. Đã hình thành được một số tập đoànkinh tế tư nhân có quy mô lớn; đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, khôngngừng nâng cao năng lực kinh doanh và quản trị doanh nghiệp. Trách nhiệm củadoanh nhân đối với người lao động, xã hội và đạo đức, văn hoá trong kinh doanhdần được nâng lên. TS. Hoàng Xuân Hòa

Vụ trưởng Vụ Kinh tế tổng hợp,Ban Kinh tế Trung ương cũng đã có những chia sẻ về vấnđề  này

  Những rào cản chủ yếu đối với sự phát triển của kinh tế tư nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, kinhtế tư nhân cũng bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém do nhiều nguyên nhân khách quanvà chủ quan, nhưng nguyên nhânchủ quan là chủ yếu đang là những rào cản đối với sự phát triểncủa kinh tế tư nhân. Cụ thể là:

- Việc đổi mới và kết quả triểnkhai thực hiện các chủ trương,chính sách về khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân còn nhiều hạn chế, yếu kém. Kinh tế tư nhânchưa đáp ứng được vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng GDP củakinh tế tư nhân có xu hướng giảm trong những năm gần đây (giai đoạn 2003-2010: 11,93%/năm; giai đoạn 2011-2015:7,54%/năm).

- Xuất phát điểm phát triển và năng lực nội tại củakinh tế tư nhân còn thấp. Kinh tế tư nhân chủ yếu vẫn là kinh tế hộ gia đình,cá thể; phần lớn doanh nghiệpcủa tư nhân quy mô nhỏ và siêu nhỏ; trình độ công nghệ thấp và chậm đổi mới; trình độquản trị, năng lực tài chính, năng suất lao động, hiệu quảkinh doanh, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh thấp; chủ yếu thamgia ở phân khúc thị trường có giá trị gia tăng thấp; cơ cấu ngành nghề cònbất hợp lý, thiếu liênkết với nhau và với các thành phần kinh tế khác; khả năngtham gia chuỗi giá trị sản xuất trong nước, khu vực và toàn cầu thấp; năng lựchội nhập quốc tế còn nhiều yếu kém; hoạt động chưa ổn định, bền vững;nhiều doanh nghiệp của tư nhân hoạt động thua lỗ, phá sản và ngừng hoạt động.

Kinhtế tư nhân chiếm 39,21% GDP của cả nước năm 2015, trong đó hộ cá thể chiếm tới31,33% GDP và các thành phần khác của kinh tế tư nhân chiếm 7,88% GDP. Doanhnghiệp của tư nhân có quy mô nhỏ và siêu nhỏ chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp của tư nhân. Tốc độ tăng trưởng doanh thu bìnhquân của các doanh nghiệp của tư nhân có chiều hướng giảm mạnh (giai đoạn2007-2011: 34%), giai đoạn 2012-2015: 10%/năm); Tỉ lệ doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động cao, bìnhquân giai đoạn 2007-2015 là 45%. Năm 2016 có 73.130 doanh nghiệp chấm dứt hoạtđộng và 20.345 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động.

Cơ cấungành nghề của kinh tế tư nhân còn bất cập, có 81% tập trung vào lĩnh vực hoạtđộng thương mại, dịch vụ, trong khi chỉ có 1% đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.Các doanh nghiệp tư nhân lớn hiện nay chủ yếu hoạt động dựa vào khai thác đấtđai, tài nguyên; kinh tế tư nhân phát triển còn yếu trong các lĩnh vực sản xuất,chế biến, chế tạo.

- Vi phạm phápluật và cạnh tranh không lành mạnh trong kinh tế tư nhân còn khá phổ biến. Tình trạng sản xuất kinh doanh gây ô nhiễmmôi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm; gian lậnthương mại… diễn ra nghiêm trọng, phức tạp. Nhiều trường hợpkhông bảo đảm lợi ích của người lao động, nợ bảo hiểmxã hội, báo cáo tài chính không trung thực, nợ quá hạn ngânhàng, trốn thuế và nợ thuế kéo dài. Xuất hiện những quan hệ không lành mạnh giữa các doanhnghiệp của tư nhân và cơ quan quản lý, can thiệp vào quá trình xây dựngvà thực thi chính sách để có đặc quyền, đặc lợi, tạo nên lợi ích nhóm, gây hậu quảkinh tế - xã hội nghiêm trọng. Những mặt trái của kinh tế tưnhân làm suy giảm lòng tin của xã hội.

- Khung khổ pháp lý vàcác cơ chế, chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển còn chưa đồng bộvà bất cập. Nhiều quy định của pháp luật, cơ chế, chính sách chưa được thực hiệnnghiêm.

- Môi trường đầutư, kinh doanh còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro cao, thiếu sự an toàn và tínhminh bạch; môi trường khởi nghiệp còn nhiều bất cập; trên thực tế, quyền tự dokinh doanh và quyền sở hữu tài sản, sự bình đẳng giữa kinh tế tư nhân và các thànhphần kinh tế khác, nhất là trongcạnh tranh và tiếp cận các cơ hội kinh doanh, nguồn lực xã hội chưa được bảo đảmđầy đủ; gia nhập và rút lui khỏithị trường còn nhiều rào cản; trật tự và kỷ luật thị trường còn yếu kém; tồn tại nhiều chi phí trung gian, khôngchính thức.

-Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao, vẫn còn biểu hiện củacơ chế xin - cho; nơi chưa bảo đảm kỷ cương. Thủ tục hànhchính còn rườm rà, phức tạp; tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà, thiếu trách nhiệm,lạm dụng chứcquyền, gây khó khăn cho doanh nghiệp vẫn khá phổ biến. Phân công, phâncấp, phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, địa phương còn phân tán và thiếu chặt chẽ. Hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của kinh tế tư nhân còn thấp.

-Vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân còn nhiều hạnchế. Hoạt động của các tổ chức đảng trong các doanh nghiệp của tưnhân đạt hiệu quả thấp. Phát triển đảng viên trong kinh tế tư nhân gặp nhiềukhó khăn.

Hoạtđộng của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp đối với khu vựckinh tế tư nhân hiệu quả chưa cao. Chưa phát huy được vai trò giám sát và đạidiện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động theo quy định củapháp luật. Việc bình xét các danh hiệu,giải thưởng tôn vinh doanh nghiệp, doanh nhân còn thiếu quy chế, tiêu chí thốngnhất, đánh giá công khai; đôi khi không thiết thực, gây lãng phí cho doanh nghiệp và chưa thực sự gắn vớiphong trào thi đua yêu nước.

2-Định hướng một số giải pháp lớn nhằm tạo lập môi trường đầu tư, kinhdoanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân trongnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Bảođảm ổn định kinh tế vĩ mô

- Triển khai thực hiện đồng bộ các giảipháp ổn định kinh tế vĩ mô vững chắc, kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý, đẩynhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng vàthực hiện ba đột phá chiến lược.

- Điềuhành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt theo cơ chế thị trường nhằm ưu tiênkiểm soát tốt lạm phát. Phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa chính sách tiền tệ vớichính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Đẩy mạnh cơ cấu lại hệthống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu; cơ cấu lại ngân sách nhà nước gắn với giảm bội chi ngân sách, bảo đảm antoàn nợ công và nâng cao hiệu quả đầu tư công. Hạn chế sự gia tăng nợcông lấn át đầu tư của khu vực tư nhân.     

Hoànthiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư tư nhân và bảo đảm hoạt động của kinh tếtư nhân theo cơ chế thị trường

- Thểchế hóa đầy đủ quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản, các quyền, nghĩa vụdân sự của các tổ chức, cá nhân và bảo đảm được thực hiện nghiêm minh. Nhà nướctôn trọng, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợppháp của các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

-Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng và bảo đảm cơ chế thực thi có hiệu quả, nghiêmminh pháp luật về hợp đồng. Tăng cường đổi mới và nâng cao năng lực, hiệu lực,hiệu quả của các thiết chế giải quyết tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại,trọng tâm là các hoạt động hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án nhân dâncác cấp, nhất là trong phá sản doanh nghiệp, tố tụng, xét xử và thi hành án đểbảo đảm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự và bảo vệ các quyền, lợi ích hợppháp của người dân và doanh nghiệp. Bảo đảm kỷ luật thị trường; tạo điều kiệnthuận lợi cho việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp.

-Có các cơ chế, chính sách khuyến khích thành lập doanh nghiệp, phát triển sảnxuất kinh doanh của kinh tế tư nhân trong những ngành, lĩnh vực, địa bàn màpháp luật không cấm, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từngthời kỳ; khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ gia đình, cá thể kinh doanh vớiquy mô ngày càng lớn, hiệu quả cao hơn, chuyển đổi sang hoạt động kinh doanhtheo mô hình doanh nghiệp bằng các chính sách như: Miễn, giảm thuế thu nhậpdoanh nghiệp, tiền sử dụng đất trong những năm đầu hoạt động; tư vấn, hướng dẫnthủ tục thành lập doanh nghiệp, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh; tổ chứccông tác tài chính, kế toán; cung cấp thông tin; hướng dẫn quản trị doanh nghiệpvà tư vấn pháp luật. Sớm ban hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Có chínhsách khuyến khích phát triển các doanh nghiệp tư nhân có quy mô đủ lớn, có khảnăng cạnh tranh trong nước và quốc tế, đặc biệt là trong những lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, côngnghiệp điện tử, nông nghiệp. Đổi mới tổ chức sản xuất trong lĩnh vựcnông nghiệp theo hướng quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, chủ yếu dựa vàodoanh nghiệp, hợp tác xã và trang trại. Chú trọng phát triển các ngành côngnghiệp và dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp để phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho nông dân.

Bảođảm các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân phảiphù hợp với nguyên tắc thị trường và thúc đẩy tính tự chủ, cạnh tranh của kinhtế tư nhân; không biến các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhânthành bao cấp, phục vụ lợi ích nhóm dưới mọi hình thức.

- Ràsoát, tháo gỡ những rào cản về thành lập doanh nghiệp, điều kiện kinh doanh,tham gia thị trường nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp đượcthành lập, hộ gia đình, cá nhân khởi nghiệp và triển khai các hoạt động sản xuấtkinh doanh theo quy định của pháp luật. Thu hẹp những lĩnh vực kinh doanh có điềukiện. Tăng cường rà soát, đơn giản hóa các thủ tục thành lập doanh nghiệp, đăngký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinhdoanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện tiêu chuẩn, quy chuẩn chuyên môn kỹ thuật;không biến việc chấp thuận, xác nhận, chứng nhận các điều kiện, tiêu chuẩnchuyên môn kỹ thuật thành giấy phép con, gây cản trở hoạt động của kinh tế tưnhân.

Mở rộng khả năng tham gia thị trường và thúc đẩy cạnh tranhbình đẳng

- Ràsoát, xóa bỏ các cơ chế,chính sách tạo ra bất bình đẳng giữa kinhtế tư nhân và các thành phần kinh tế khác; giữa các chủ thể của kinh tế tưnhân, nhất là trong cạnh tranh và tiếp cận nguồn lực xã hội, các yếu tố sản xuất,cơ hội kinh doanh, tham gia thị trường, mà trọng tâm là đất đai, vốn, nguồn lựccủa Nhà nước. Tăng cường tính minh bạch đối với độc quyền nhà nước, độc quyềndoanh nghiệp và kiểm soát độc quyền kinh doanh; bảo đảm cạnh tranh lành mạnhtrên thị trường. Xóa bỏ các chính sách hành chính can thiệp trực tiếp vào thịtrường và sản xuất kinh doanh, nhất là giá cả hàng hóa, dịch vụ.

- Đẩymạnh cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, tạo điềukiện cho kinh tế tư nhân tham gia đầu tư cùng phát triển các lĩnh vực mà phápluật không cấm; xây dựng chính sách thúc đẩy liên kết theo chuỗi giá trị giữadoanh nghiệp nhà nước và kinh tế tư nhân… Đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công và tạođiều kiện cho kinh tế tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ công. Bảo đảm kinh tếtư nhân chấp hành đầy đủ các tiêu chuẩn, hợp chuẩn, hợp quy trong các lĩnh vực,ngành, nghề theo quy định của pháp luật, nhất là về công nghệ, bảo vệ môi trường,sức khỏe, vệ sinh, an toàn sản xuất kinh doanh và sản phẩm.

- Tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân tham gia vào quá trìnhcơ cấu lại doanh nghiệp nhà nướcthông qua góp vốn, mua cổ phần để hình thành các tổ chức sản xuất kinh doanh hỗnhợp, có năng lực tài chính, quy mô hoạt động lớn, công nghệ và quản trị hiện đại,nhất là sớm phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu có khả năng cạnhtranh ở thị trường trong nước và quốc tế. Phát huy và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanhnghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và phong trào khởi nghiệp.

-Xây dựng chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên nguyên tắc có chọnlọc; ưu tiên cho các dự án đầu tư có côngnghệ cao, các công ty đa quốc gia lớn với yêu cầu chuyển giao vàlan tỏa rộng rãi về công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, liên kết sản xuấttheo chuỗi giá trị với các doanh nghiệp của tư nhân trong nước, nhất là trongphát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp công nghệ cao.

- Hoàn thiện thể chế quản lýtài chính doanh nghiệp và minh bạch thông tin tài chính của doanh nghiệp tưnhân.

Pháttriển kết cấu hạ tầng 

Pháttriển nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại nhằm hỗ trợ sản xuấtkinh doanh và tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân tiếp cận, sử dụng thuận lợi, bình đẳng với chi phí hợp lý, đồng thờibảo đảm tính công khai, minh bạch.

-Tập trung phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng đồng bộhơn, nhất là kết cầu hạ tầng giao thông, năng lượng, viễn thông, đô thị, cấp,thoát nước, thủy lợi, xử lý chất thải, dịch vụ hậu cần. Sớm hoàn thiện thể chếđể đẩy mạnh thực hiện cơ chế hợp tác công - tư trong đầu tư, khai thác, sử dụng,kinh doanh các dự án, công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật. Kiểm soátchặt chẽ các chi phí đầu tư và việc thu hồi vốn của các dự án phát triển hạ tầngđể giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp.

-Tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu vận tải đa phương tiện cho các doanh nghiệpdựa trên hệ thống giao thông đồng bộ, có trọng điểm, kết nối giữa các trung tâmkinh tế lớn và giữa các trục đầu mối giao thông; mở rộng đầu tư và hiện đại hóagiao thông đường bộ, đường sắt, hàng hải, thủy nội địa và đường hàng không;tăng cường kết nối các hệ thống giao thông liên kết vùng, địa phương, kết nối hệthống giao thông trong nước với quốc tế để phát triển dịch vụ logicstic, lưuthông, phân phối hàng hóa, dịch vụ thuận tiện đáp ứng nhu cầu thị trường trongnước và quốc tế. Phát triển kết cấu hạ tầng đô thị hiện đại, đồng bộ. Giảm ùn tắcgiao thông, nhất là ở các đô thị lớn.

-Phát triển hệ thống hạ tầng viễn thông hiệnđại, có chất lượng tốt và bao phủ rộng khắp trong cả nước. Phát triển hệ thốngthủy lợi đa mục tiêu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống của nhândân. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Phát triển hạ tầngnăng lượng đồng bộ; bảo đảm cung cấp đầy đủ năng lượng cho sản xuất kinh doanhvà đời sống.

-Quy hoạch và đẩy mạnh đầu tư phát triển đồng bộ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao vàbảo đảm đầy đủ mặt bằng sản xuất kinh doanh với đầy đủ hạ tầng kinh tế -kỹ thuật, dịch vụ hỗ trợ và chi phí hợp lý.

Tăngcường khả năng tiếp cận các nguồn lực

-Khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về đất đai, quản lý tàinguyên và môi trường tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân tiếp cận đấtđai, các nguồn tài nguyên một cách minh bạch, bình đẳng theo cơ chế thị trườngphục vụ sản xuất kinh doanh. Quyền sử dụng đất thực sự là tài sản, được chuyểnnhượng, bảo đảm cho các nghĩa vụ dân sự, kinh tế; bảo đảm quy hoạch sử dụng đấtổn định, lâu dài; điều chỉnh các quy định liên quan để các tổ chức, cá nhân đượcthuê đất, giao đất lâu dài với quy mô phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh;hỗ trợ tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn,công nghệ cao, gắn với bảo đảm việc làm và thu nhập bền vững của nông dân.

-Cơ cấu lại và phát triển nhanh, an toàn, hiệu quả các thị trường tài chính, nhấtlà hệ thống các tổ chức tín dụng và thị trường vốn; tạo điều kiện bình đẳng,thuận lợi cho kinh tế tư nhân tiếp cận vay vốn ngân hàng, huy động vốn trên thịtrường chứng khoán, nhất là phát hành trái phiếu doanh nghiệp và sử dụng các dịchvụ tài chính với chi phí hợp lý. Bảo đảm lãi suất và tỷ giá hối đoái ổn định,phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô và thị trường.

Pháttriển đa dạng các định chế tài chính, các quỹ đầu tư mạo hiểm, các quỹ bảo lãnhtín dụng, các tổ chức tài chính vi mô, các tổ chức tư vấn tài chính, dịch vụ kếtoán, kiểm toán, thẩm định giá, xếp hạng tín nhiệm…

Đẩymạnh cơ cấu lại và phát triển đồng bộ thị trường chứng khoán, trong đó tậptrung phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và các thị trường chứngkhoán phái sinh để thị trường chứng khoán thực sự trở thành một kênh huy động vốntrung và dài hạn quan trọng của các doanh nghiệp tư nhân.

Pháttriển hệ thống các tổ chức tín dụng an toàn, lành mạnh; bảo vệ quyền lợi hợppháp của người gửi tiền, khách hàng và của bản thân tổ chức tín dụng. Phát triểnđa dạng và nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng, nhất là dịch vụ tín dụngvà thanh toán cho nền kinh tế. Nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách tín dụngphù hợp với các phương thức sản xuất kinh doanh, đối tượng khách hàng, tăng cườngkết nối các khâu trong mạng sản xuất và chuỗi giá trị.

Pháttriển đa dạng và nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm để giảm thiểurủi ro, tổn thất và ổn định sản xuất kinh doanh, đời sống của người dân vàdoanh nghiệp. Chú trọng phát triển bảo hiểm trong lĩnh vực nông nghiệp.

-Phát triển mạnh mẽ, thông suốt các thị trường hàng hóa, dịch vụ trên cả nước, đặcbiệt là thị trường tư liệu sản xuất, đồng thời có biện pháp bảo vệ có hiệu quảthị trường trong nước gắn với đẩy mạnh phát triển thị trường quốc tế phù hợp vớicác cam kết quốc tế. Phát triển đồng bộ, thông suốt, có hiệu quả hệ thống lưuthông, phân phối hàng hóa, dịch vụ. Bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.Tăng cường công tác phòng, chống gian lận thương mại, thao túng, chi phối thịtrường, bóp méo giá cả, quan hệ cung - cầu hàng hóa, dịch vụ.  

-Có cơ chế, chính sách tạo điều kiện để kinh tế tư nhân tích cực thamgia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Hỗ trợ kinh tế tư nhântiếp cận, khai thác các cơ hội trong hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường,đẩy mạnh đầu tư và thương mại quốc tế; xóa bỏ các rào cản bất hợp lýkhi tham gia thương mại, đầu tư quốc tế đối với kinh tế tư nhân. Tạo điềukiện cho kinh tế tư nhân phát triển năng lực toàn diện để từng bước tham giasâu, vững chắc vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Hỗtrợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồnnhân lực, nâng cao năng suất lao động

-Khuyến khích, hỗ trợ kinh tế tư nhân đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu vàphát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ tiên tiến; thúc đẩy đổi mới, sángtạo nhằm nâng cao năng suất lao động. Hoàn thiện pháp luật và thực hiện có hiệuquả các biện pháp, quy định bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu. Phát triểncác quỹ hỗ trợ đổi mới, sáng tạo và ứng dụng công nghệ cùng với chính sách thuếhợp lý, hỗ trợ tài chính, tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi trong nghiên cứu, đổi mới,hiện đại hóa công nghệ, kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực đối với kinh tế tưnhân, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp ứngdụng công nghệ cao. Kết nối doanh nghiệp, ý tưởng khởi nghiệp, đổi mới sáng tạovới các nhà đầu tư, quỹ đầu tư; hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường, xúctiến thương mại, tìm kiếm đối tác, tiêu thụ sản phẩm.

Tiếptục phát triển các khu công nghệ cao, các vườn ươm khởi nghiệp, vườn ươm côngnghệ cao và các doanh nghiệp khoa học - công nghệ; đẩy mạnh đầu tư, phát triểncác cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ, đội ngũ các nhà khoa học; tăng cườnghợp tác trong nước và quốc tế trong nghiên cứu khoa học, công nghệ và mua bán,chuyển giao các sản phẩm khoa học, công nghệmới. Thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu khoa học, công nghệ.

- Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát triểnnguồn nhân lực với hệ thống chính sách, giải pháp đồng bộ. Đổi mới căn bản toàndiện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là đào tạo nghề, đào tạo bậccao để đáp ứng đủ nhu cầu số lượng và chất lượng nhân lực cho kinh tế tư nhân.Tăng cường hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo; quyhoạch và phát triển đào tạo theo nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và thị trường.Tiếp tục đẩy mạnh thực hiệnNghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 09-12-2011 của Bộ Chính trị về xây dựng và pháthuy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Chútrọng đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ doanh nhân có trình độ chuyênmôn tốt, kỹ năng lãnh đạo, quản trị hiện đại, có trách nhiệm xã hội, bảo vệ môitrường và đạo đức trong kinh doanh. Xây dựng và triển khai rộng rãi các chuẩn mựcvăn hóa và đạo đức kinh doanh lành mạnh. 

-Khuyến khích, động viên và lan tỏa tinh thần, ý chí khởi nghiệp, kinh doanh vàđổi mới sáng tạo trong toàn xã hội, nhất là cộng đồng doanh nghiệp. Đẩy mạnh phổbiến, tuyên truyền, giáo dục kiến thức kinh doanh, khởi nghiệp cho mọi đối tượngxã hội; nghiên cứu, đưa nội dung giáo dục kinh doanh vào chương trình giáo dục,đào tạo các cấp./.

 

 

  Các bài viết mới
▪  Xu hướng đầu tư ra nước ngoài của một số nước Châu Á tại Việt Nam  (06/12/2018)
▪  30 năm thu hút FDI: Dấu ấn chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam.  (17/09/2018)
▪  Công nghệ số ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội của Việt Nam  (13/09/2018)
▪  Hội nghị " Hải Phòng - Sự lựa chọn tối ưu của Nhà đầu tư Hàn Quốc" tổ chức ngày 20/9/2018 tại khách sạn Rex  (23/08/2018)
▪  Cần Thơ đồng hành cùng nhà đầu tư  (10/08/2018)
▪  30 năm thu hút FDI: Suy ngẫm và hướng về phía trước  (02/08/2018)
▪  FDI với chuyển giao công nghệ  (02/08/2018)
▪  Doanh nghiệp tư nhân: Khó lớn vì đói vốn  (05/06/2018)
▪  Đầu tư từ Đông Bắc Á vào Việt Nam giữ vai trò chủ đạo và dẫn dắt tổng thể khối đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.  (24/05/2018)
▪  Thủ tướng đối thoại với các tập đoàn hàng đầu Singapore  (02/05/2018)
 
 
Mạng lưới Xúc tiến đầu tư