Trang này tất cả
search  
8/1/2008 9: 21: 15 AM
  Trang chủ | Site map | Liên hệ
Thông tin thời tiết
Tỷ giá
Thị trường chứng khoán
Mã CK TC Khớp lệnh +/-
Giá KL
 
 
:: Đồng hành cùng Nhà đầu tư » Chi tiết
Tác động của FDI đến nguồn nhân lực và việc làm của lao động Việt Nam

Tác động của FDI đến nguồnnhân lực và việc làm của lao động Việt NamTác động của FDI đếnnguồn nhân lực và việc làm biểu hiện ở cả sự thay đổi về quy mô, cơcấu và chất lượng nguồn nhân lực và việc làm của lao động Việt Nam.Sốlao động Việt Nam làm việc trong khu vực FDI ngày càng ttang Có thểthấy sự gia tăng về số lao động có việc làm trong các doanh nghiệpFDI qua bảng số liệu sau:

        Bảng 2. Số lao động làm việc trongcác loại hình trong doanh nghiệp FDI

                           Năm

Loại DN

ĐVT

2000

2005

2010

2012

2013

Toàn bộ DN FDI,

Người

407.565

1.2220.616

2.156.063

2.719.966

3.222.538

T.đó: 100% vốn NN.

% so với tổng số

Người

%

285.975

70,2

1.028.466

84,3

1.902.374

88,2

2.476.385

91,0

2.964.438

92%

DN liên doanh

% so với tổng số

Người

%

121.590

29,8

192.150

15,7

253.689

11,8

243.581

9,0

258.100

8,0

Nguồn: Tổng cục Thống kê. Báo cáo kết quả điều tra tình hìnhsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giaiđoạn 2000-2013.

     Từ bảng số liệu trên có thể thấy:

     - Số lao động làm việc trong doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng liên tục qua các năm, bình quânmỗi năm tăng xấp xỉ 20%. Trong 13 năm (từ năm 2000 đến 2013), số laođộng làm việc trong doanh nghiệp đã tăng lên hơn 8 lần. Năm 2013, hơn 3triệu người đang làm việc trong các DN FDI là một lực lượng lao độnghùng hậu không chỉ tạo ra giá trị kinh tế cao cho đất nước mà còntạo việc làm, giảm thất nghiệp đáng kể ở Việt Nam trong những nămvừa qua. Theo TS. Nguyễn Tấn Vinh, “Laođộng làm việc trong các doanh nghiệp FDI ngày càng tăng, nếu năm 1990tỷ lệ lao động trong khu vực này chỉ chiếm 0,04% lực lượng lao độngcả nước, thì đến năm 2007 tỷ lệ này là 1,6%. Năm 2010, khu vực FDI đãthu hút trên 1,7 triệu lao động trực tiếp, trong đó lao động trực tiếplàm việc trong khu vực công nghiệp chiếm gần 80%, năm 2015 là 2,2 triệulao động, chiếm 4,2% so với cả nước. Ngoài ra, FDI còn tạo việc làmkhoảng 2,5 triệu lao động gián tiếp”.

     - Trong hai loại hình doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài, người lao động Việt Nam chủ yếu làm việctrong các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và ngày càng tăngtrong loại hình doanh nghiệp đó. Sở dĩ như vậy, như trên đã trìnhbày, trong đầu tư nước ngoài loại hình doanh nghiệp 100% vốn chủ yếu.

     - Theo tính toán giản đơn của tácgiả, trong 13 năm (từ năm 2000 đến năm 2013) tổng vốn đầu tư thực hiện(76.127 triệu USD) đã tạo việc làm cho 3.222 nghìn người, bình quân 1triệu USD đầu tư trực tiếp vào Việt Nam (vốn thực tế có đầu tư) tạora được 23,6 chỗ làm việc cho người lao động Việt Nam hoặc để tạo ramột chỗ làm việc trong doanh nghiệp FDI nước ngoài cần đầu tư bìnhquân 42,3 nghìn USD (khoảng hơn 900 triệu đồng Việt Nam). Nếu tính theovốn đăng ký, bình quân 1 triệu USD vốn đăng ký đầu tư vào Việt Namtạo ra được 6,4 chỗ làm việc (205.632 tr.USD/3.222.000 người). Tuy nhiên,cần lưu ý dựa vào vốn đăng ký để tính bình quân số việc làm đượctạo thêm là không chính xác, cần dựa vào số vốn đầu tư đã thựchiện để tính toán. Rất tiếc, con số vốn đầu tư thực hiện hầu nhưkhông được tổng hợp tính toán và công bố so với vốn đầu tư đăng ký.

     3.2. Tác động tích cực đến chuyểndịch cơ cấu nhân lực và việc làm.

     Như trên đã trình bày, các nước đầutư vào Việt Nam chủ yếu đầu tư vào ngành công nghiệp chế tạo, chếbiến, xây dựng và dịch vụ là những ngành không những Việt Nam đangcần phát triển mà là những ngành phù hợp với xu hướng phát triểnhiện đại tren thế giới. Trong lực lượng lao động được thu hút vàocác doanh nghiệp FDI, phần lớn lao động đều đến từ nông thôn – nơi sảnxuất nông nghiệp là chủ yếu và hầu như chưa được đào tạo để thíchứng với công nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực từ nông nghiệpsang công nghiệp và dịch vụ là xu hướng tiến bộ mà Việt Nam đanghướng tới và FDI có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xu hướngtiến bộ đó.

     3.3. Chất lượng nguồn nhân lực vàchất lượng việc làm ngày càng được nâng cao

     Đánh giá tác động đến chất lượngnói chung và đánh giá tác động của vốn đầu tư nước ngoài đến chấtlượng nguồn nhân lực Việt Nam tham gia trong các doanh nghiệp FDI nóiriêng là một việc làm hết sức khó khăn, khó chính xác, khó lượnghóa. Khi nêu về tác động của đầu tư nước ngoài FDI đến nguồn nhânlực và việc làm của lao động, tác giả Nguyễn Văn Toàn có nêu: “Trong quá trình làm việc trong cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người lao động đã trưởngthành trên nhiều mặt: tác phong công nghiệp, văn hóa doanh nghiệp,trình độ kỹ năng chuyên môn kỹ thuật và quản lý, trình độ ngoạingữ… Nhiều lao động sau thời gian làm việc trong các doanh nghiệp đầutư nước ngoài đã trở thành những cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lýgiỏi, nòng cốt trong các doanh nghiệp”. Không chỉ người Việt Namđánh giá tích cực về chất lượng nguồn nhân lực của mình mà ngườinước ngoài cũng có nhận xét tương tự. Ông Bang Hyun Woo, Phó Tổnggiám đốc Công ty Samsung Việt Nam cho biết: “Nếu so sánh năng suất lao động và chất lượng lao động củaViệt Nam và Hàn Quốc với cùng một công nghệ, máy móc thiết bị nhưnhau thì lao động Việt Nam bằng 99% so với lao động Hàn Quốc” vànguyên nhân được ông lý giải “tiềm năng lao động Việt Nam là rất lớnvà năng suất lao động Việt Nam nếu có thấp thì phụ thuộc nhiều vàogiáo dục và các nhà quản lý chứ không phải do năng lực người laođộng”.

     Chất lượng nguồn nhân lực và chấtlượng việc làm không chỉ thể hiện ở sự thay đổi có tính chất địnhtính mà còn thông qua các chỉ tiêu định lượng khác ở dưới đây.

     + Năng suất lao động: Năng suất laođộng (NSLĐ) được đo bằng doanh thu thuần bình quân một lao động. Cóthể thấy tình hình năng suâts lao động như sau:

     Bảng 3. Năng suất lao động của doanhnghiệp trong nước và nước ngoài

          Nếu xét riêng doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài thì doanh nghiệp liên doanh có năng suất lao động caohơn hẳn doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, riêng năm 2013 gấp hơn 3 lần(2.459/844). Đây cũng là điều cần giải thích vì cũng giống như doanhnghiệp nhà nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài, về mặt nguyên tắc, được trang bị máy mócthiết bị, công nghệ, trình độ quản lý, phải hơn doanh nghiệp liêndoanh. Có thể xếp các doanh nghiệp theo mức năng suất lao động như sau:Cao nhất là doanh nghiệp liên doanh, tiếp đến là doanh nghiệp nhà nướcvà thấp nhất là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Rõ ràng rằng, xétvề góc độ năng suất lao động, người lao động làm việc trong các doanhnghiệp liên doanh có hiệu quả cao nhất cần được tiếp tục duy trì vàphát triển, còn đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cầnđược đánh giá một cách nghiêm túc để tránh nhầm tưởng chủ quan rằngcứ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là doanh nghiệp100% vốn nước ngoài là có hiệu quả hơn các loại hình doanh nghiệpkhác.

     + Thunhập bình quân một lao động: Thu nhập bình quân một lao động trongcác loại hình doanh nghiệp được thể hiện qua số liệu sau:

Thực tế người lao động làmviệc trong các liên doanh có thu nhập bình quân cao nhất so với doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước. Nếu nghiên cứusâu về mức thu nhập bình quân của một lao động trong các doanh nghiệpđầu tư nước ngoài thì thấy rõ ràng, mức thu nhập trong các doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài như vậy là quá thấp trong khi cường độ laođộng cao, các chế độ bảo hiểm an sinh và tính ổn định công việcthấp. Đây có thể là một trong những nguyên nhân mà người lao độngViệt Nam thiếu gắn bó và làm việc có hiệu quả trong các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp có100% vốn đầu tư nước ngoài nào cũng vậy, chẳng hạn, nghiên cứu các doanhnghiệp Nhật Bản, thu nhập bình quân của một lao động Việt Nam như sau:năm 2005: 4,85 tr.đ., năm 2010: 9,36 tr.đ., năm 2015: 18,46 triệu đồng. Vànăm 2017: là 26,65 triệu đồng. Với mức thu nhập bình quân tháng củamột lao động Việt Nam như thế thì hoàn toàn không thấp.

     Tất cả những đánh giá nhận xét trêncho thấy, vốn FDI của các nước đầu tư vào Việt Nam đều có tác đọngtích cực đến nguồn nhân lực và việc làm của lao động Việt Nam. Tuynhiên, nếu nói rằng, đầu tư FDI chỉ tác động tích cực đến lao độngvà việc làm của người Việt Nam thì còn phiến diện, một chiều. Tácđộng của FDI đến nguồn nhân lực và việc làm cũng có những hạn chế,tiêu cực nhất định, biểu hiện:

     - Tínhổn định, bền vững trong công việc thấp. Người lao động Việt Namlàm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường khôngyên tâm khi làm việc lâu dài do tính ổn định thấp. Tính không ổn địnhbiểu hiện rõ rệt nhất là dễ bị sa thải, đuổi việc hoặc đóng cửadoanh nghiệp dễ rơi vào thất nghiệp, đặc biệt đối với những ngườilớn tuổi vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có tác động của cáchmạng Công nghiệp 4.0. Hậu quả là rất nhiều tranh chấp lao động, baogồm đình công và lãn công xảy ra khá thường xuyên trong các doanhnghiệp FDI, trong đó nổi lên là các doanh nghiệp của Đài Loan và HànQuốc. Theo Báo cáo “Tình hình tranhchấp lao động và đình công từ năm 2006 đến năm 2013” của Bộ Laođộng – Thương Binh và Xã hội, từ năm 1995 đến năm 2013 cả nước có5.025 cuộc đình công, trong đó các nước Đông Bắc Á có 3.028 cuộc,chiếm 64,7%; riêng Đài Loan và Hàn Quốc chiếm khoảng 80% cuộc đìnhcông trong các nước ĐBA. Gắn liền với tính không ổn định trong côngviệc là tính không ổn định trong trời sống, không gắn bó với doanhnghiệp của mình. GS. Kim Yuong Joy, Đại học Quốc gia Pukyong Hàn Quốctrong một nghiên cứu khảo sát của mình cho thấy: “Sự gắn kết với tổ chức và ý định làm việc lâu năm của nhânviên Việt Nam trong các công ty Hàn Quốc thấp hơn đáng kể so với nhânviên đang làm việc tại các công ty nước ngoài khác” và nguyên nhânđược cho là “Việc quản lý tổ chứckém công bằng … nên mức độ trung thành với công ty thấp”.

     - Sựchậm thích nghi và thay đổi của lao động Việt Nam với nền sản xuấtcông nghiệp hiện đại của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Cónhiều mâu thuẫn và thách thức của người lao động Việt Nam khi tham gialao động trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Có thể kể đến cácmâu thuẫn và thách thức mà người lao động Việt Nam thường gặp phải,như mâu thuẫn giữa thói quen của nền sản xuất nhỏ, tiểu nông màNgười lao động Việt Nam thường xuất thân từ đó với sự tiếp xúc nềnsản xuất hiện đại, phong cách quản lý hiện đại; mâu thuẫn giữa sứckhỏe yếu, trình độ thấp của lao động Việt Nam với cường độ lao độngcao và kỹ thuật lao động nghiêm ngặt và sự quản lý chặt chẽ trongcác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, xung đột về văn hóa vàngôn ngữ bất đồng do trình độ ngoại ngữ hạn chế của cả hai bên,…Kết cục là nhiều lao động Việt Nam chỉ làm việc trong doanh nghiệpcó vốn đầu tư nước ngoài trong một số năm nhất định và luôn hướngtới việc tìm kiếm các công việc khác bên ngoài phù hợp hơn với nhucầu và điều kiện của họ.

     4. Một số đề xuất về tăng cường mốiquan hệ tác động giữa vốn đầu tư FDI và nguồn nhân lực, việc làmcủa lao động Việt Nam nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xãhội của Việt Nam

     - Cần cân nhắc lựa chọn các nhà đầutư nước đầu tư, ngành nghề cần đầu tư và loại hình doanh nghiệp cầnđầu tư để đảm bảo được yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập củaViệt Nam. Rõ ràng, với các đánh giá trên, có thể xếp thứ tự ưu tiênlựa chọn các nước ĐBA trong đầu tư theo thứ tự: Nhật Bản, Hàn Quốc,Đài Loan và Trung Quốc; ngành nghề đầu tư cần tập trung vào côngnghiệp chế tạo vật liệu, máy móc, thiết bị hiện đại, điện tử, tựđộng hóa, không đầu tư vào những ngành nghề và lĩnh vực mà Việt Namcó thể làm và làm tốt như xây dựng, dịch vụ nhà hàng, khách sạn,chế biến, ăn uống,… tăng cường hình thức đầu tư liên doanh (cùng liêndoanh với Việt Nam) và nâng cao hiệu quả đầu tư 100% vốn nước ngoài,không mở rộng hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài bằng cách hy sinhcác lợi ích khác của Đất Nước, đồng thời mở rộng đầu tư của Việt Namra nước ngoài và thu hút lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc chocác doanh nghiệp đó. Trong đó liên doanh đặc biệt quan tâm đến sự pháttriển của doanh nghiệp Việt Nam nhằm tránh bị chèn ép, khống chế vàthôn tính dần để trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

     - Cần triển khai những chính sáchđảm bảo quyền lợi lâu dài của người Việt Nam làm việc trong cácdoanh nghiệp có đầu tư nước ngoài, trong đó có chính sách bảo hiểmthất nghiệp, bảo hiểm khác, đảm bảo thu nhập tương xứng với hao phílao động có cường độ lao động của người lao động, tăng cường phúclợi chung, đảm bảo các điều kiện sinh hoạt, như nhà ở, nhà trẻ,bệnh viện, điện nước,… Khi xét duyệt dự án đầu tư phải các cơ quanquản lý dự án phải tính các chi phí liên quan này trong vốn đầu tưnước ngoài.

    - Cần có nhiều cuộc khảo sát đánhgiá, hội thảo, tổng kết hoạt động của đầu tư nước ngoài nói chungvà của từng nước, từng khu vực nói riêng, theo từng chủ đề, chuyênđề, từng đối tượng lao động để đánh giá hiệu quả của các doanhnghiệp đầu tư nước ngoài. Việc báo cáo, cung cấp số liệu chính xáccủa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho các cơ quan quảnlý nhà nước về doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cần thường xuyên theodõi, đánh gía, tổng hợp số liệu chính xác và công bố kịp thời trêncác thông tin đại chúng về kết quả hoạt động của doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài theo các tiêu chí khác nhau.

     - Nên thống nhất và thành lập mộtbộ phận chuyên trách nghiên cứu lao động Việt Nam làm việc trong cáctổ chức có đầu tư nước ngoài và lao động nước ngoài làm việc trongcác tổ chức có đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm đánh giá thườngxuyên, kịp thời, sâu sát và cụ thể các mặt liên quan đến hoạt độnglao động trong các tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài.

     Do nguồn số liệu, dữ liệu thống kê,báo cáo của các tổ chức còn ít được công bố trên thông tin đạichúng và có nhiều hạn chế, như mới khái quát chung, thiếu đồng bộ,thiếu thống nhất và liên tục theo không gian và thời gian, ít đượctổng hợp, cập nhật, đặc biệt trong lĩnh vực lao động, việc làm, thunhập và đời sống của người lao động tại các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài nên bài viết dựa trên những nguồn số liệu đó còncó những hạn chế nhất định.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tổng cục Thống kê. (2014),Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, giai đoạn 2006 – 2011, NXB Thốngkê Hà Nội.

2. Tổng cục Thống kê. Báocáo kết quả điều tra tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpcó vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2000 – 2013.

3. Khổng Văn Thắng, (2015),Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trựctiếp tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013. Tạp chí Thống kê và Cuộcsống, số 02.

4. Kim Yuong Joy. Tạp chí HànQuốc, Chế độ quản lý nguồn nhân lực trong công ty có vốn đầu tư nướcngoài và ảnh hưởng của chế độ này tới sự gắn kết nhân viên ViệtNam đối với doanh nghiệp. Tài liệu đã dịch.

  Các bài viết mới
▪  Kinh tế tư nhân – động lực để phát triển  (06/12/2018)
▪  Hiệp định thương mại tự do song phương Việt – Hàn, cơ hội và thách thức  (06/12/2018)
▪  Một số định hướng giải pháp lớn nhằm tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta  (06/12/2018)
▪  Xu hướng đầu tư ra nước ngoài của một số nước Châu Á tại Việt Nam  (06/12/2018)
▪  30 năm thu hút FDI: Dấu ấn chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam.  (17/09/2018)
▪  Công nghệ số ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội của Việt Nam  (13/09/2018)
▪  Hội nghị " Hải Phòng - Sự lựa chọn tối ưu của Nhà đầu tư Hàn Quốc" tổ chức ngày 20/9/2018 tại khách sạn Rex  (23/08/2018)
▪  Cần Thơ đồng hành cùng nhà đầu tư  (10/08/2018)
▪  30 năm thu hút FDI: Suy ngẫm và hướng về phía trước  (02/08/2018)
▪  FDI với chuyển giao công nghệ  (02/08/2018)
 
 
Mạng lưới Xúc tiến đầu tư