Trang này tất cả
search  
8/1/2008 9: 21: 15 AM
  Trang chủ | Site map | Liên hệ
Thông tin thời tiết
Tỷ giá
Thị trường chứng khoán
Mã CK TC Khớp lệnh +/-
Giá KL
 
 
:: Đồng hành cùng Nhà đầu tư » Chi tiết
Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam và một số nước Đông Bắc Á

Trong giai đoạn 2012-2016, với nỗ lực vượt qua giai đoạn khó khăn bắt nguồn từ khủng hoảng kinh tế ởChâu Âu, Việt Nam đã tận dụng các hiệp định thương mại tự do đã ký kết để thúcđẩy hoạt động ngoại thương và đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trongviệc xuất khẩu hàng hóa. Các chỉ số xuất nhập khẩu không những là một trong cácyếu tố quan trọng để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà còn thểhi độ hội nhập kinh tế quốc tế - điều mà Việt Nam đã và đang tiếp tục hướngđến.

Trong tiến trình toàncầu hóa, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giữ vai trò của quan trọng, đặc biệtlà đối với các quốc gia đang phát triển. Sự phát triển nhanh và của các doanhnghiệp FDI đem lại những mặt tích cực như cung cấp nguồn vốn đ. công nghệ mới,kỹ năng quản lý hiện đại và khả năng tiếp cận với thị trường nước hoa Tính đếnngày 20/03/2018, Hàn Quốc dẫn vị trí đứng đầu trong việc đầu tư FDI vào Nam vớitổng vốn đăng ký 59 tỷ USD (chiếm 18,4% tổng vốn đầu tư), Nhật Bản Xếp hai với49,8 tỷ USD, tiếp theo là Singapore và Đài Loan, British virgin Islands, HÀKông (Cục đầu tư nước ngoài 2018). Điều này chỉ ra rằng Việt Nam và Hàn Quốc, NBản đang trở thành đối tác quan trọng của nhau, hứa hẹn về triển vọng pháttriển quan ngày càng vững chắc. Chính vì lẽ đó, bài tham luận sẽ tiến hành phântích tình hình x nhập khẩu của các doanh nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2012 -2016, tập trung chú trọng vào các doanh nghiệp FDI và tình hình xuất nhập khẩugiữa Việt Nam với Hàn Quốc Nhật Bản và Trung Quốc. Phần cuối bài sẽ đưa ra đềxuất các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động xuất khẩu đến thị trường Hàn Quốc,Nhật Bản và Trung Quốc.

 

2. Xuất nhập khẩu thời kỳ 2012 - 2016

 

          Đầu năm 2012, nền kinh tế của nhiều nước vẫn còn đối mặtvới rất nhiều khó khăn sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 - 2008,do đó tốc độ tăng trưởng toàn cầu rất chậm. Trước tình hình đó, Việt Nam khôngtránh khỏi những hệ lụy. Tuy nhiên, nhờ vào các chính sách phù hợp của Nhànước, sự ổn định trong môi trường chính trị và sự nỗ lực hội nhập kinh tế quốctế thông qua các hiệp định thương mại tự do được ký kết, đã từng bước đưa hoạtđộng ngoại thương của Việt Nam dần khởi sắc và trở thành điểm sáng trong sựphát triển kinh tế và xã hội của quốc gia. Trong giai đoạn 2012 - 2016. hoạtđộng xuất nhập khẩu có một số điểm đáng ghi nhận như sau:

 2.1. Các doanh nghiệp FDI vẫn chiếm tỷ trọngcao trong kim ngạch xuất nhập khẩu

 

 

Hình 1. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn2012-2016

Nguồn: Tổng cục thống kê, 2017

 

Từ hình 1 có thể thấyrõ, khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ấm giữ vị trí quantrọng trong tăng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Nam. Tỷ trọng tổng kim ngạchxuất nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chungcủa cả nước từ năm 2012 đến năm 2016 lần lượt là 54,3%, 58.8%, 59,7%, 63.4% và64,4%. Có thể nói, trong khi khu vực kinh tế trong nước gần như dậm

chân tại chỗ, các hoạtđộng ngoại thương trong khối doanh nghiệp FDI diễn ra vô cùng nhộn nhịp. So vớicon số 20% mức độ gia tăng của doanh nghiệp trong nước từ năm 2012 đến năm2016, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI đã tăng 82.53%

 

 

Nguồn: Tổng cục thống kê, 2017

 

Hình 2. Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại các doanhnghiệp FDI 2012-2016

 

 

Số liệu tổng cục thốngkê (2017) chỉ ra rằng:

Về xuất khẩu: xuất khẩuhàng hóa của các doanh nghiệp FDI tăng gần như gấp đôi trong 5 năm (64.04 tỷUSD năm 2012, 123,87 tỷ USD năm 2016), tập trung chủ yếu trong loại hình Chếxuất - Gia công - Sản xuất xuất khẩu. Xét về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, năm2012, sau khi chạm ngưỡng 33.7% thì các năm sau đó tốc độ tăng trưởng xuất khẩucó xu hướng ổn định 16-17%. Năm 2016, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu còn 12%.

Về nhập khẩu: Tình hìnhnhập khẩu của các doanh nghiệp FDI có sự biến động tăng giảm qua các năm. Trongnăm 2012, lượng nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI là khoảng 60 tỷUSD, đến năm 2013 tăng chạm đỉnh 24.2% (74.4 tỷ USD). Năm 2014, mức tăng trưởngnhập khẩu của các doanh nghiệp FDI giảm 13.1%. Mức này tăng lên lại 15.5% trongnăm 2015, sau đó giảm mạnh còn 5.4% trong năm 2016.

Nhìn chung, cán cânthương mại của các doanh nghiệp FDI vẫn duy trì được mức thặng dư tăng dần quacác năm, từ 2012 (4.10 tỷ USD) đến 2016 (21.43 tỷ USD).

2.2.Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu

 

Nguồn: Tổng cục thống kê, 2017

 

 

Hình 3. Các mặt hàng xuất khẩu nội trôi

 

Xuất khẩu hàng hóa giaiđoạn 2012 2016 đã được một số thành tựu (1) , Trước hết, đó là sự không ngừnggia tăng quy mô xuất khẩu và khả năng để trị tăng trưởng ở mức ổn định. Thêm nữa, cácnhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam đã khẳng định vị trí của mình trên thị trườngxuất khẩu quan trọng lớn như Hoa Kỳ, ĐU…..    

 Căn cứ hình 3, một số mặt hàng xuất khẩu chínhnổi bật trên thị trường, như

2.3. Mật hàng nhập khẩu chủ yếu

 

.

 

Nguồn: Tổng cục thốngkê, 2017

 

|Nhìn chung, cán cân thương mại giữaViệt Nam và Trung Quốc, Hàn Quốc vẫn đang trong tình trạng nhập siêu. Đối vớitình hình xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản, trong các năm 2012 - 2014,Nhật Bản chủ yếu nhập hàng hóa từ Việt Nam, xong bắt đầu từ 2015 đã có sự đổingôi. Câu hỏi đặt ra là phải làm thế nào để cân đối lại kim ngạch  xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước, cụthể là giảm lượng hàng hóa nhập khẩu về Việt Nam và tăng hàng hóa xuất khẩu đếnthị trường Đông Bắc Á.

4. Một số khó khăn trong việc xuất khẩu và kiến nghị giảipháp

Hiệp định thương mại tự do (FTA) đãtạo nên hiệu quả tích cực trong việc thu hồi vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài(Lê Hoàng Oanh, 2016). Tính đến tháng 11 năm 2017  Hàn Quốc vẫn dẫn đầu trong việc đầu tư FDIvào Việt Nam với tổng vốn đăng ký 57,5 USD (chiếm 18,1% tổng vốn đầu tư), xếpthứ hai là Nhật Bản với 49,1 tỷ USD, tiếp theo là Singapore và Đài Loan. Tuynhiên, việc giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng từ các nước Đông Bắc Á cũng làmgia tăng tình trạng thâm thụt thương mại giữa Việt Nam và các nước. Vì vậy, đểđảm bảo cán cân thương mại được cân bằng, các doanh nghiệp Việt Nam cần chútrọng chất lượng hàng hóa sản xuất, quản lý doanh nghiệp hiệu quả, tăng sứccạnh tranh trên thị trường nội địa cũng như quốc tế. Chú trọng đến các nhómhàng  Việt Nam đang được các quốc giaĐông Bắc Á chú ý như: vải các loại, thiết bị, linh kiện điện tử và điện thoại,phụ liệu dệt may, da giày, sản phẩm từ sắt thép và chất dẻo và các mặt hàngnông lâm thủy sản.

Bên cạnh đó, thực trạng hoạt độngsản xuất để xuất khẩu phụ thuộc rất nhiều vào nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu từ nước ngoài. Vì vậy khiNhà nước chủ trương thúc đẩy xuất khẩu cũng kéo theo tình trạng gia tăng nhậpkhẩu và tình hình nhập siêu vẫn không thay đổi được. Tuy Chính phủ đã ban hànhQuyết định số 12/2011/QĐ

TTg quy định những trụ đài pháttriển các ngành công nghiệp hỗ trợ song do chưa hình thành được một số tổ chứchỗ trợ, liên kết các doanh nghiệp nên nhìn chung ngành công  nghiệp hỗ trợ vẫn còn yếu và thiếu (Bùi TrườngGiang & Phạm Sỹ An, 2014). Một thực tế khác là trong khi Việt Nam là mộttrong 10 quốc gia xuất khẩu hàng dệt may hàng đầu thế giới thì hơn 70% nguồnnguyên vật liệu vẫn phải nhập từ nước ngoài (Hà Văn Hội 2012). Chính vì lẽ đó,các doanh nghiệp nên chủ động nguồn nguyên liệu cho sản xuất để tránh quá phụthuộc vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập bằng cách tự sản xuất hoặc tìm kiếm cácnguồn nguyên vật liệu trong nước để thay thế.

 Đối với các mặt hàng nông sản, Hàn Quốc, NhậtBản có những quy định phức tạp về kiểm dịch thực vật, thủ tục đánh giá rủi rocòn nhiều khê. Do đó, đại diện các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản cần phối hợpvới cơ quan quản lý kiểm dịch Việt Nam cần làm việc với cơ quan sở tại để tiếnhành công tác đánh giá rủi ro, đồng thời công nhận biện pháp quản lý dịch hại,từ đó đề ra các hướng dẫn, giải pháp thực hiện cho nông dân và các doanh nghiệpxuất khẩu nông sản.

5. Kết luận

Tóm lại, trong giai đoạn 2012-2016,mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và các nước Đông Bắc Á như TrungQuốc, Hàn Quốc, Nhật Bản ngày càng thắt chặt và phát triển. Vốn đầu tư FDI từHàn Quốc vào Việt Nam tính theo lũy kế đến năm 2018 vẫn đang dẫn đầu. Tuy nhiênxét về tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Hàn Quốc, Nhật Bản, TrungQuốc, lợi thế vẫn đang nghiêng về đất nước bạn. Vì vậy nhằm đảm bảo hợp tác cácbên cùng có lợi, các doanh nghiệp Việt Nam cần tìm cách giảm chi phí nhập khẩunguyên vật liệu bằng cách sử dụng tài nguyên có sẵn và các nguyên vật liệu thaythế. Bên cạnh đó các doanh nghiệp cần quản lý tốt hơn về chất lượng, mẫu mã, baobì hàng hóa xuất khẩu. Đặc biệt trong những năm gần đây, hàng nông sản đang dầntrở thành thế mạnh của Việt Nam. Do đó, các doanh nghiệp cần tìm hiểu tiêuchuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm của nước bạn để kịp thời đưa ra phương phápnuôi trồng chế biến đóng gói đạt chuẩn để có thể đẩy mạnh hơn nữa việc xuấtkhẩu nông sản sang thị trường các nước Đông Bắc Á.

  Các bài viết mới
▪  Tình hình thu hút vốn của Nhật Bản vào Việt Nam  (06/12/2018)
▪  Kinh tế thế giới và Việt Nam 2018  (06/12/2018)
▪  Tác động của FDI đến nguồn nhân lực và việc làm của lao động Việt Nam  (06/12/2018)
▪  Kinh tế tư nhân – động lực để phát triển  (06/12/2018)
▪  Hiệp định thương mại tự do song phương Việt – Hàn, cơ hội và thách thức  (06/12/2018)
▪  Một số định hướng giải pháp lớn nhằm tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta  (06/12/2018)
▪  Xu hướng đầu tư ra nước ngoài của một số nước Châu Á tại Việt Nam  (06/12/2018)
▪  30 năm thu hút FDI: Dấu ấn chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam.  (17/09/2018)
▪  Công nghệ số ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội của Việt Nam  (13/09/2018)
▪  Hội nghị " Hải Phòng - Sự lựa chọn tối ưu của Nhà đầu tư Hàn Quốc" tổ chức ngày 20/9/2018 tại khách sạn Rex  (23/08/2018)
 
 
Mạng lưới Xúc tiến đầu tư