Trang này tất cả
search  
8/1/2008 9: 21: 15 AM
  Trang chủ | Site map | Liên hệ
Thông tin thời tiết
Tỷ giá
Thị trường chứng khoán
Mã CK TC Khớp lệnh +/-
Giá KL
 
 
:: Đồng hành cùng Nhà đầu tư » Chi tiết
Xu hướng đầu tư ra nước ngoài của một số nước Châu Á tại Việt Nam

Trongnhững năm qua Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, luôn là những quốc gia đứng đầutrong danh sách có lượng vốn FDI cao đầu tư tại Việt Nam. Vậy chúng ta cùng tìmhiểu xem xu hướng đầu tư ra nước ngoai của họ như thế nào.

1.Xu hướng đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thếgiới 2008 làm vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (OFDI) của Nhật Bản sụt giảm mạnh,năm 2011 đầu tư OFDI của Nhật Bản đã phục hồi trở lại, tăng gấp đôi năm 2010 vàđạt mốc trước khủng hoảng 128,6 tỷ USD vào năm 2015, đạt mức cao kỷ lục 145 tỷUSD năm 2016. Theo Báo cáo đầu tư thế giới 2017 của UNCTAD, Nhật Bản hiện giữ vịtrí thứ 4 trong 10 nước có đầu tư ra nước ngoài lớn nhất năm 2016. Tỷ trọng vốnOFDI của Nhật Bản trong tổng FDI thế giới cũng tăng hơn gấp đôi, từ 4,1% năm2010 lên 10,0% năm 2016.

Theo số liệu mới nhất của JETRO(2018), trong hai năm gần đây, tỷ trọng vốn OFDI của Nhật Bản vào Châu Âu tăngrất mạnh, trở thành địa điểm đầu tư quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp NhậtBản. Tỷ trọng vốn OFDI Nhật Bản vào Châu Âu tăng từ khoảng 20 – 25% trong giaiđoạn 2012 – 2015 lên tới 43,4% năm 2016 và 36,1% năm 2017. Đầu tư của các doanhnghiệp Nhật Bản vào Mỹ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng OFDI của Nhật Bảntrong 4 năm từ 2012 – 2015, sau đó tỷ lệ này giảm xuống còn xấp xỉ 30% trong 2năm gần đây.

Vốn OFDI của Nhật Bản đầu tưvào Châu Á biến động nhiều do tình trạng các doanh nghiệp chuyển cơ sở sản xuấttừ Trung Quốc sang các nước khác ở Châu Á. Nguyên nhân là do do chi phí nhâncông ngày càng cao ở Trung Quốc, những căng thẳng ngày càng tăng giữa hai quốcgia về chủ quyền biển đảo, nền kinh tế đang tăng trưởng chậm lại và thay đổichính sách và mô hình sản xuất của Trung Quốc. Vốn OFDI của Nhật Bản đầu tư vàoTrung Quốc giảm mạnh liên tục cả về số tuyệt đối và tương đối từ năm 2012 đếnnay. Các doanh nghiệp Nhật Bản lựa chọn các quốc gia ASEAN để chuyển địa điểm sảnxuất từ Trung Quốc. Ngoài ra, sự kiện thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)vào cuối năm 2015 cũng góp phần thúc đẩy khả năng cạnh tranh thu hút vốn FDI củakhu vực ASEAN, trong đó có OFDI từ Nhật Bản. Số liệu của UNCTAD cho thấy vốnOFDI từ Nhật Bản vào các nước ASEAN nhìn chung luôn đạt mức cao trên 20 tỷ USD.Tuy nhiên, đầu tư của Nhật Bản vào ASEAN cũng không đồng đều giữa các quốc gia,các doanh nghiệp Nhật Bản tập trung đầu tư hơn vào Malaysia và Philippines.

Các công ty Nhật Bản đầu tư chủyếu vào các ngành như sản phẩm lương thực, bán buôn bán lẻ và tài chính/bảo hiểm.Theo JETRO, trong 5 năm gần đây, tỷ trọng OFDI Nhật vào các ngành phi sản xuấtluôn chiếm tới trên 60% tổng vốn OFDI của Nhật ra nước ngoài. Trong đó, nhữngngành có mức đóng góp lớn nhất là ngành tài chính – bảo hiểm (23,8%), bán buôn– bán lẻ (18,4%), truyền thông (11,8%). Ở phía các ngành sản xuất, các ngànhlương thực – thực phẩm, thuốc – dược liệu và máy móc đang thu hút ngày càng nhiềucác doanh nghiệp từ Nhật Bản đầu tư, với tỷ trọng lần lượt là 6,8%, 6,8% và6,2%.

2. Xu hướng đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc

Sau khủng hoảng kinh tế thế giới,Hàn Quốc là một trong số các nước tích cực đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm cáccơ hội đầu tư mới. Vốn OFDI Hàn Quốc tăng nhanh từ xấp xỉ 22 tỷ USD năm 2007lên hơn 28 tỷ USD năm 2010, tương đương mức tăng từ 1% lên 2% tổng vốn OFDI thếgiới. Trong giai đoạn 2010 - 2014, Hàn Quốc luôn duy trì mức đầu tư ra nướcngoài cao trên 28 tỷ USD, trong đó đạt mức kỉ lục 30 tỷ USD năm 2012. Tuy sauđó mức đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc sụt giảm xuống chỉ còn 23,7 tỷ USD năm2015, nhưng đã hồi phục nhanh chóng lên mức xâp xỉ 30 tỷ USD năm 2016, tươngđương 1,9% tổng vốn OFDI thế giới. TheoBáo cáo đầu tư thế giới 2017 (UNCTAD), với mức đầu tư này, Hàn Quốc hiện giữ vịtrí thứ 13 trong Top các nước có đầu tư ra nước ngoài lớn nhất năm 2016, tăng 3bậc so với năm 2015. Theo báocáo mới nhất của OECD, tính đến hết quý III/2017, Hàn Quốc đã đầu tư ra nướcngoài hơn 25,6 tỷ USD, tương đương gần 86% tổng vốn OFDI của Hàn Quốc năm 2016.Như vậy, vốn đầu tư nước ngoài của Hàn Quốc năm 2017 hoàn toàn có thể vượt mốckỉ lục 30 tỷ USD.

Một đặc điểm nổi bật trong đầutư ra nước ngoài của Hàn Quốc là các công ty đa quốc gia của Hàn Quốc (MNEs)cũng liên tục thành lập trụ sở và chi nhánh tại nhiều quốc gia thuộc khối APEChay RCEP. Trong số 100 công ty đa quốc gia, các công ty trong lĩnh vực kỹ thuậtsố chiếm vị trí áp đảo, đặc biệt, công ty Samsung Electronics. Giai đoạn diễnra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 cũng là giai đoạn số lượngdoanh nghiệp Hàn Quốc ở nước ngoài cao nhất, đạt 5503 doanh nghiệp năm 2006,6069 doanh nghiệp năm 2007 và 4300 doanh nghiệp năm 2008. Sau đó, số doanh nghiệpthành lập mới ở nước ngoài giữ ở mức ổn định từ 2600-3300 doanh nghiệp giai đoạn2009-2016.

Xét theo khu vực đầu tư, tronggiai đoạn 1980 – 2016, với lợi thế địa lý, Châu Á thu hút được nhiều nhất vốnOFDI từ Hàn Quốc (40%), tiếp theo là Bắc Mỹ (26%) và Châu Âu (16%). Số lượngdoanh nghiệp Hàn Quốc được thành lập mới tại khu vực châu Á cũng chiếm tỷ trọngcao nhất với 47.394 doanh nghiệp, chiếm khoảng 67%. Số lượng doanh nghiệp HànQuốc tại Bắc Mỹ là 14.411, chiếm 21%.

Nhìn chung cơ cấu đầu tư theokhu vực và theo nước của Hàn Quốc không có những biến động lớn từ năm 2000 đếnnay. Mỹ cùng với bốn quốc gia khác là Trung Quốc, Hồng Kông, Việt Nam và quần đảoCayman đã thu hút hơn 50% lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc. Trong sốcác quốc gia tiếp nhận đầu tư từ Hàn Quốc, Mỹ vẫn duy trì vị trí số một do quanhệ gần gũi cả về kinh tế và chính trị.

Từnăm 1980 đến nay, đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc tập trung chủ yếu vào cácngành Công nghiệp chế biến, chế tạo; Khai khoáng; Tài chính và bảo hiểm; Bánbuôn bán lẻ; Bất động sản và cho thuê. Đây đều là những ngành phù hợp với thế mạnhvà nhu cầu của kinh tế Hàn Quốc. Năm lĩnh vực này chiếm đến hơn 80% vốn đầu tưcủa Hàn Quốc. Trong đó, các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư trong lĩnh vực côngnghiệp chế biến, chế tạo đạt gần 153 tỷ USD, chiếm 30%, khai khoáng là 100 tỷđô la Mỹ, chiếm 20% tổng OFDI của Hàn Quốc.

Hình 2: Năm lĩnh vực chính đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc

Nguồn:Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc (2018).

3. Xu hướng đầu tư ra nước ngoài của Singapore

Singaporelà quốc gia khuyến khích các công ty quốc tế hóa các hoạt động kinh doanh. Năm2012, chính phủ Singapore đã ban hành ba chương trình khuyến khích thuế trị giá240 triệu đô-la Singapore để giúp các công ty quốc tế hóa, đây là tác nhân quantrọng thúc đẩy dòng vốn OFDI của Singapore. Vốn OFDI của Singapore tăng rấtnhanh sau khi Chính phủ thực hiện các chương trình này đạt 43,6 và 52,2 tỷ USDtrong hai năm 2013 và 2014, tương đương mức tăng gấp 2,25 và 2,7 lần so với năm2012, chiếm đến 3,1% và 4,2% trong tổng vốn OFDI thế giới. Với quy mô đầu tư ranước ngoài như này, Singapore năm 2014 là nước đứng thứ 10 trong số 20 nền kinhtế có mức đầu tư nước ngoài lớn nhất trên thế giới, tăng 1 bậc so với năm 2013.Tuy nhiên, sau đó Singapore đã không duy trì được mức tốc độ tăng trưởng vốnOFDI do địa điểm đầu tư quan trọng nhất của Singapore (chiếm tới gần 20% tổng vốnOFDI) là Trung Quốc suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Chính vì vậy, vốn OFDISingapore giảm xuống 31,4 và 23,8 tỷ USD trong hai năm 2015 – 2016. Hiện nay,Singapore chỉ đứng vị trí 17 trong số 20 nền kình tế có nguồn vốn FDI ra nướcngoài lớn nhất trên thế giới.

Cáccông ty của Singapore đầu tư chủ yếu vào các nước Châu Á, chiếm trên 50% tổng vốnOFDI của Singapore, trong đó Trung Quốc luôn là điểm đến quan trọng nhất củacác nhà đầu tư Singapore. Trong Top 10 nước các doanh nghiệp Singapore đầu tưnhiều nhất, Châu Á chiếm tới 50%. Xét theo vốn lũy kế, Trung Quốc và Hồng Công,là những quốc gia thu hút được nhiều nhất vốn OFDI từ Singapore. Tính đến hếtnăm 2016, Vốn OFDI Singapore vào Trung Quốc và Hồng Công chiếm tới 15,8% và6,9% tổng vốn OFDI của Singapore. Đầu tư Singapore ở Trung Quốc tập trung chủ yếuvào các ngành sản xuất chế biến chế tạo và bất động sản, ở Hồng Công là ngànhtài chính và bảo hiểm.

Khuvực ASEAN cũng là điểm đến chủ yếu của các nguồn vốn OFDI Singapore, chiếm tớihơn 1/3 tổng vốn OFDI Singapore vào Châu Á, trong đó, Malaysia và Indonesia lànhững nước thu hút được nhiều nhất. Các doanh nghiệp Singapore đầu tư vào hainước này tới hơn 70% tổng vốn OFDI Singapore vào ASEAN, chủ yếu vào các ngànhtài chính – bảo hiểm và sản xuất chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, nếu tính theo vốnOFDI hàng năm, các nhà đầu tư Singapore đang có xu hướng chuyển dịch các luồngtài chính vào nước đang rất có tiềm năng phát triển là Ấn Độ (chiếm hơn 4,7% vốnOFDI Singapore năm 2016 so với chỉ 2,5% năm 2011).

ChâuÂu đang trở thành một khu vực tiềm năng thu hút các công ty Singapore đến đầutư. Trong giai đoạn từ 2011 - 2015, vốn OFDI lũy kế của Singapore vào khu vựcChâu Âu tăng khá ổn định, chiếm khoảng 15-17% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài củaSingapore. Tỷ trọng vốn OFDI lũy kế của Singapore vào Châu Âu so với tổng vốn đầutư trực tiếp ra nước ngoài của Singapore đạt 23,1% năm 2016. Ở khu vực này, cáccông ty Singapore đầu tư chủ yếu vào các nước Luxembourg (8,3%), Anh (5,6%) vàHà Lan (3%). Vốn OFDI Singapore chủ yếu vào ngành tài chính và bảo hiểm.

Xétvề tổng thể, ngành dịch vụ tài chính và bảo hiểm thu hút được nhiều nhất cácnhà đầu tư từ Singapore. Hiện nay, Singapore đã vượt qua Hồng Công để trở thànhtrung tâm tài chính thứ ba của thế giới, chỉ xếp sau London và New York. Theo Cụcthống kê Singapore, đầu tư OFDI của Singapore trong các ngành này chiếm tới xấpxỉ 50% tổng vốn OFDI lũy kế của Singapore, đạt xấp xỉ 320 tỷ USD. Trong đó, hơn75% vồn đầu tư của ngành này là dưới hình thức các doanh nghiệp “mẹ” nắm giữ cốphẩn FDI (holding company).

Tuyngành sản xuất chế biến chế tạo vẫn xếp thứ hai trong thu hút nguồn vốn OFDISingapore, nhưng tỷ trọng ngành này trong tổng OFDI đang có xu hướng giảm nhẹqua các năm, từ 19,4% năm 2012 xuống còn 16,7% năm 2016. Ngoài ra, lĩnh vựcđang được các nhà đầu tư Singapore đặc biệt quan tâm là thương mại bán buôn -bán lẻ. Tỷ trọng vốn OFDI trong lĩnh vực này tăng lên nhanh chóng, từ 5,3% năm2006 lên 8,2% năm 2016.

Hình 3: Cơ cấu vốn OFDI Singaporephân theo ngành, năm 2016 (%)

Nguồn: Cục thống kê Singapore (2018)

  Các bài viết mới
▪  30 năm thu hút FDI: Dấu ấn chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam.  (17/09/2018)
▪  Công nghệ số ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội của Việt Nam  (13/09/2018)
▪  Hội nghị " Hải Phòng - Sự lựa chọn tối ưu của Nhà đầu tư Hàn Quốc" tổ chức ngày 20/9/2018 tại khách sạn Rex  (23/08/2018)
▪  Cần Thơ đồng hành cùng nhà đầu tư  (10/08/2018)
▪  30 năm thu hút FDI: Suy ngẫm và hướng về phía trước  (02/08/2018)
▪  FDI với chuyển giao công nghệ  (02/08/2018)
▪  Doanh nghiệp tư nhân: Khó lớn vì đói vốn  (05/06/2018)
▪  Đầu tư từ Đông Bắc Á vào Việt Nam giữ vai trò chủ đạo và dẫn dắt tổng thể khối đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.  (24/05/2018)
▪  Thủ tướng đối thoại với các tập đoàn hàng đầu Singapore  (02/05/2018)
▪  Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc, mùa xuân 2018  (24/04/2018)
 
 
Mạng lưới Xúc tiến đầu tư